Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Không quân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Không quân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 21 tháng 1, 2016

Phỏng vấn Thiếu tá Không quân Hồ Kim Giàu và hồi ức Long Ly

Phỏng vấn Cựu Thiếu Tá Không Quân HỒ KIM GIÀU,
Quyền Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn Nghênh Cản 538 Không Quân Việt Nam Cộng Hòa

Thiếu Tá Hồ Kim Giàu gia nhập Không Quân Việt Nam Cộng Hòa năm 1961, và du học Hoa Kỳ đầu năm 1962, tốt nghiệp Trường Huấn luyện Phi công Hải Quân Hoa Kỳ tại Pensacola, Florida, tháng 3 năm 1964. Khi trận hải chiến Hoàng Sa xảy ra giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải Quân Trung Quốc ngày 19 tháng 1 năm 1974, ông đang đảm nhận chức vụ quyền Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn Nghênh Cản 538 tại Ðà Nẵng.
Cuộc phỏng vấn được thực hiện qua điện thoại lúc 9:30 AM ngày 21 tháng 4 năm 2010, và được bổ túc thêm trong cuộc trao đổi điện thoại lúc 11AM ngày 27 tháng 4 năm 2010.

1. UBHS: Xin Thiếu Tá cho biết chức vụ và trách nhiệm của mình vào thời điểm xảy ra trận Hải Chiến Hoàng Sa ngày 19 tháng 1 năm 1974?

Th/T Giàu: Tháng 6 năm 1973, tôi được đề cử đi học một khóa tu nghiệp về F-5E tại Arizona và sau đó được chuyển qua học tại Trường Không Chiến ở căn cứ Không Quân Hoa Kỳ Nellis, Las Vegas. Sau khi tốt nghiệp trở về nước ngày 23 tháng 12 năm 1973, tôi được BTL/KQVNCH chỉ định làm quyền Phi Ðoàn Trưởng Phi Ðoàn Nghênh Cản 538 tại Ðà Nẵng. Từ Sài Gòn, tôi bay ra Đà Nẵng nhận nhiệm vụ ngay ngày 24 tháng 12 năm 1973. Trận Hải Chiến Hoàng Sa xảy ra giữa Hải Quân Việt Nam Cộng Hòa và Hải Quân Trung Quốc ngày 19 tháng 1 năm 1974 trong lúc tôi đang chỉ huy Phi Ðoàn này. Nhiệm vụ của Phi đoàn là bảo vệ không phận VNCH, ngăn chận phi cơ Bắc Việt từ bên kia vĩ tuyến 17 tấn công lãnh thổ Vùng I Chiến Thuật.

Thanh long: Nguyễn Thành Trung dựng chuyện, láo khoét...

Nguyễn Thành Trung lại dối trá, dựng chuyện, đặt điều,
láo khoét về cuộc chuẩn bị oanh tạc Đảo Hoàng Sa
của Không Quân VNCH năm 1974
Kính thưa Quý Niên Trưởng, quý chiến hữu và quý độc giả.
NT Trung đã nói nhiều điều không có thật, nếu chúng ta không lên tiếng làm sáng tỏ, tôi nghĩ sẽ có nhiều người tin NT Trung  rất “yêu Nước” và một người quan trong trong cuộc chuẩn bị hành quân ném bom Hoàng sa. Đã 40 năm, khi đến ngày 19-1 chúng ta nhớ đến những Anh Hùng Hải Quân VNCH bảo vệ Hoàng Sa đã dũng cảm chiến đấu với tàu chiến cũa Trung cộng, bắn chìm tàu Trung cộng  và đã hy sinh. Đồng thời chúng tôi cũng nhớ đến chuẩn bị oanh tạc Hoàng Sa của Không Quân VNCH
NT Trung nói “Với phi công phe XHCN thời đó, bay biển là một vấn đề nên tôi đánh giá phi công Trung quốc năm 1974 không có gì, không thể bay ra biển, không dám chiến đấu trên biển, trong khi ở miền Nam, chúng tôi bay trong đất liền, bay ra biển giống, bay ra Hoàng sa, Trường Sa là bình thường.”
Đây là một nhận xét hoàn toàn không đúng và nói láo. Khi chuẩn bị đánh Hoàng Sa, đài Kiểm Báo Panama cho biết trên không phận Hoàng Sa có hai chiếc Mig21 bay bao vùng vì thế chúng tôi tiên liệu sẽ có không chiến với Mig21 khi đến Hoàng Sa.
Ngày 20-1 chuẩn bị, ngày 21 nghe thuyết trình và sẵn sàng cất cánh nhưng cuối cùng huỷ bỏ vì Mỹ không cho đánh, ngày 22-1 lúc 3 giờ chiều, hai máy bay Mig 21  từ đảo Hải Nam  bay vào không phận chúng ta, hướng về thành phố Đà Nẵng. Đài Kiểm Báo Pannama báo động, Trung Uý Trần Tảo và tôi đã cất cánh khẩn cấp lên nghênh cản hai chiếc Mig . Tình hình rất căng thẳng, phi cơ ở 20.000 feet bay đối đầu với Mig. Phi đoàn sợ chúng tôi quên nên gọi lên Panama nhắc thả ba bình xăng phụ trước khi không chiến. Chúng tôi sẵng sàng, hỏi Panaman  diễn tả mục tiêu, về  vị trí của Mig. Panama im lặng một lát rồi cho biết hai Mig21 đã bay vòng về Hải Nam. Như vậy máy bay Mig 21 của Trung cộng bay từ Hải Nam đến Đà Nẵng phải bay trên biển chứ đâu có bay trên mặt đất mà Trung nói chỉ bay trong đất liền. Sự kiện trên chứng tỏ NT Trung phi công Trung cộng không thể bay ra biển, không dám chiến đấu trên biển là hoàn toàn sai.

Nguyễn Thành Trung: Không quân VNCH lên kế hoạch đánh tàu TQ

Có một giờ G khác vào năm 1974
....
Đến giờ này tôi vẫn ân hận, tiếc là không được chết vì Hoàng Sa. Ngày 18.1.1974, hải quân Trung Quốc đổ bộ lên chiếm đảo Hoàng Sa, phía Việt Nam Cộng hoà khi đó có một đại đội địa phương quân chốt trên đảo Phú Lâm. Hai bên đánh nhau, cùng có thương vong về con người nhưng quân số Trung Quốc đông quá, 51 lính địa phương quân của ta bị bắt đưa về Trung Quốc. Việt Nam Cộng hoà lên tiếng phản đối việc Trung Quốc dùng sức mạnh quân sự để chiếm đảo của Việt Nam một cách phi pháp. Đây là sự kiện lớn, dư luận thế giới cũng phản đối việc đó.
Lúc này hải quân của Việt Nam Cộng hoà không thể đổ bộ chiếm lại đảo được. Ngày 19.1.1974, tổng thống Nguyễn Văn Thiệu điều năm phi đoàn F5, bốn ở sân bay Biên Hoà, một ở sân bay Đà Nẵng, mỗi phi đoàn có 24 máy bay và 120 phi công ra Đà Nẵng chuẩn bị đánh lấy lại Hoàng Sa. Mọi người rất phấn khởi, tụi tôi đi ra với tư thế là đi lấy lại một phần lãnh thổ đất nước. Sĩ quan cấp tá ở các phi đoàn 520 - Nguyễn Văn Dũng, 536 - Đàm Thượng Vũ, 540 - Nguyễn Văn Thanh, 544 - Đặng Văn Quang, 538 - Nguyễn Văn Giàu đều đã lên kế hoạch tác chiến kỹ lưỡng.
150 phi công thuộc sáu phi đoàn F5 của không lực Việt Nam Cộng hoà khi đó đều ký tên chung vào một lá đơn tình nguyện "Xin được chết vì Hoàng Sa".
Hàng ngày, máy bay RF5 có nhiệm vụ bay và chụp ảnh các toạ độ từ nhỏ nhất ở Hoàng Sa, xem có thay đổi gì, tàu chiến Trung Quốc di chuyển ra sao, bố trí các cụm phòng thủ thế nào... đưa về chiếu ra cho tất cả phi công theo dõi. Tụi tôi đếm từng tàu một, thậm chí đếm được cả số ghi trên tàu, chia bản đồ ra làm bốn, mỗi góc tư giao cho một phi đoàn, phi đoàn thứ năm bay bảo vệ trên không. Họ có 43 tàu tất cả và quyết tâm của tụi tôi là đánh chìm tất cả 43 tàu đó trong vài giờ.
Về không quân, vào thời điểm đó chúng tôi có nhiều lợi thế hơn Trung Quốc. Bay từ Đà Nẵng ra Hoàng Sa bằng cự ly từ đảo Hải Nam ra. Ưu thế của phi đội tụi tôi là máy bay bay ra, đánh nửa tiếng vẫn thừa dầu bay về còn Trung Quốc chỉ có Mig 21, bay ra đến Hoàng Sa thì không đủ dầu bay về. Khí thế phi công lúc đó hừng hực, mấy anh chỉ huy trưởng từ đại tá trở xuống đòi đi đánh trước. Tất cả háo hức chờ đến giờ G là xuất kích. Nhưng giờ G ấy đã không đến. Hạm đội 7 của Mỹ trên biển không cứu các hạm đội của đồng minh Việt Nam Cộng hoà bị bắn chìm và bị thương trên đảo. Dường như vì lợi ích của mình, các quốc gia lớn có quyền mặc cả và thương lượng bất chấp sự toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia khác.

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

Không Quân TQ: Hứa Thế Hữu và mệnh lệnh “tam bất đả”

Hứa Thế Hữu và mệnh lệnh “tam bất đả”(1)
Tài-liệu này giải thích sự kiện là Không Quân Trung Cộng không tác chiến tại HoàngSa 1974.
Bài viết cũng có thể nói lên một phần sự kiện là không có phi cơ Tàu Cộng tác chiến tại Biên Giới Việt-Nam năm 1979
Chúng tôi chân thành cảm ơn Học-Giả Nguyễn Duy Chính đã giúp chúng tôi dịch bài này. VHS.
 
[Trong chiến dịch] lấy lại ba đảo Tây Sa, tướng Hứa Thế Hữu ra lệnh: “ba điều không bắn”
Gần trưa ngày 20 tháng 1 năm 1974, trong việc tiến đánh chiếm lại quần đảo Vĩnh Lạc thuộc Tây Sa bao gồm 3 đảo Cam Tuyền, San Hô và Kim Ngân, tư lệnh Quảng Châu là Hứa Thế Hữu đã ra lệnh cho quân đội tại tiền tuyến ở Tây Sa phải thi hành khẩn cấp mệnh lệnh “ba điều không bắn”: không phải phi cơ địch thì không bắn, chưa nhận rõ là phi cơ địch thì không bắn, phi cơ địch chưa tấn công ta thì không bắn.
Mệnh lệnh “ba điều không bắn” của tướng Hứa Thế Hữu nguyên do vì đâu, chúng tôi đã hỏi Tống chỉ huy tiền tuyến Tây Sa là Nguỵ Minh Sâm thì ông Nguỵ trả lời như sau:
Trong lúc tác chiến để lấy lại quần đảo Tây Sa, lực lượng phòng không của hạm đội Nam Hải chúng ta ở Tây Sa đóng tại đảo Vĩnh Hưng trên quần đảo Tuyên Đức. Đảo Vĩnh Hưng chỉ cách các đảo Cam [Tuyền], San [Hô] 100 cây số, hạm đội chỉ phái Tư lệnh không quân họ Giả đến công tác mà thôi.

Vì phi cơ tác chiến của hải không quân vẫn thường bay trên đảo Vĩnh Lạc tuần tra quan sát để yểm trợ cho quân đội chiến đấu nhưng việc thông tin giữa hạm đội và hải không quân không dùng mật ngữ mà dùng mật mã điện báo do điện đài của hạm đội gửi đi nên khi điện đài nhận được phải do điện viên thông dịch, thời gian qua lại dễ gây sơ xuất có thể khiến quân ta bắn quân ta.
Điển hình là đã hai lần, lần thứ nhất khi quân đội chuẩn bị tấn công lên đảo thì nhận được tin báo có phi cơ địch đến. Thời điểm đó mây cao 2000 m, Nguỵ Minh Sâm hỏi khoa trưởng họ Giả: “Có phải phi cơ địch sẽ xuống thấp dưới mây rồi mới tấn công mình chăng?” Giả đáp: “Đúng thế”.
Nguỵ hỏi lại: “Vậy khi phi cơ địch xuống dưới mây thì sẽ bắn chứ gì?” Giả đáp: “Có thể lắm”.
Quả nhiên chỉ 10 phút sau thấy có hai chiếc phi cơ sơn màu bạc liều lĩnh bay thấp khoảng 300m trông tiêm kích cơ 6 của quân ta. Nguỵ Minh Sâm lập tức hạ lệnh “Không được bắn” rồi hỏi lại Giả khoa trưởng có phải máy bay của mình không?. Giả đáp: “Không liên lạc được nên không rõ”.
Phi cơ bay một vòng sau đó đi mất. Nửa tiếng sau, nhận được mật điện của hạm đội thông báo là hai chiếc tiêm cơ 6 của mình đã cất cánh. Khi đó bộ đội trên hạm đĩnh trên biển có trên 100 khẩu súng máy, nếu như nhắm vào hai chiếc phi cơ đó mà bắn thì hậu quả không biết thế nào mà lường.
Lần thứ hai chúng tôi phát hiện có oanh tạc cơ bay trên trời, khi đó bộ đội đang tấn công lên đảo, nhận được từ hạm đội là”có phi cơ địch trên không”. Mười phút sau, từ phía nam bay lên phía bắc trên hai đảo Cam Tuyền San Hô cao độ 1000 m bay tới một oanh tạc cơ lớn màu trắng, không có chiến đấu cơ yểm trợ, ngang nhiên bay đến không trung hai đảo này. Bộ chỉ huy liền lập tức thông báo các lực lượng rằng “phi cơ địch đang ở trên trời, chuẩn bị chiến đấu”. Thế nhưng tư lệnh Nguỵ quan sát kỹ lưỡng thì thấy không giống như phi cơ địch nên lại hạ lệnh: “Không sẵn sàng bắn”. Nguỵ tư lệnh hỏi lại Giả khoa trưởng có phải máy bay của mình không?. Giả đáp: “Không liên lạc được nên không rõ”.
Phi cơ bay đến gần thì thấy dưới bụng màu đen, Nguỵ lại hỏi Giả: “Thế là thế nào?”. Giả đáp: “Ấy là nòng đạn đã mở ra rồi đấy”. Nguỵ Minh Sâm nói: “Cái càng ở dưới đuôi cũng mở ra rồi”. Hai mươi phút sau hạm đội thông báo: “Phi cơ oanh kích 6 của ta đang chụp ảnh ở trên không”. Nếu như chúng tôi cứ nhắm chiếc máy bay đó mà bắn thì thể nào cũng rơi.
Nguỵ Minh Sâm thấy việc quan trọng nên lập tức báo cáo cho quân khu, tư lệnh Hứa hết sức nóng ruột nên ra lệnh “ba điều không bắn” cho quân đội tiền tuyến ở Tây Sa. Đầu thập niên 70, vì điều kiện giới hạn, quân đội chúng ta lần đầu tác chiến ở xa trên biển, việc hợp đồng tác chiến hải không quân vá hạm đội còn nhiều vấn đề, quân đội tổng kết việc hợp đồng hải không quân trong trận đánh Tây Sa để về sau không xảy ra những trường hợp như thế nữa.
Đây chính là lời từ miệng lão thủ trưởng họ Nguỵ kể cho nghe, là kinh nghiệm cực quí báu trong tác chiến mong được các cấp quân đội quan tâm. Ngày 19 tháng 1 sang năm là kỷ niệm 38 năm hải chiến Tây Sa, tôi viết bài này để tưởng nhớ Hứa Thế Hữu, Nguỵ Minh Sâm là các quân sự gia lão thành của giai cấp vô sản.
---

(1) http://blog.people.com.cn/article/1323072834063.html 收复西沙三岛,许世友为啥下达“三不打”命令

原创于: 2011-12-05 16:13:54 thu phục tây sa tam đảo,hứa thế hữu vi hạ đạt “tam bất đả” mệnh lệnh
---
Hứa Thế Hữu là Bí thư và Tư lệnh quân khu Quảng Châu. Theo bài báo này thì ngày 20/01/1974 (tức sau trận hải chiến), ông này ra lệnh cho quân đội Trung Cộng tại Hoàng Sa phải thi hành khẩn cấp mệnh lệnh “ba điều không bắn”: (1) không phải phi cơ địch thì không bắn, (2) chưa nhận rõ là phi cơ địch thì không bắn, (3) phi cơ địch chưa tấn công ta thì không bắn.
   Nếu không nhờ mệnh lệnh này thì quân Trung Cộng tại Hoàng Sa đã ít nhất 2 lần bắn nhầm vào máy bay của phe mình, do phương tiện liên lạc phối hợp tác chiến bấy giờ của Trung Cộng còn quá lạc hậu.

  
Hứa Thế Hữu (trái) và Ngụy Minh Sâm (phải)

Các phi-cơ J-6 Jet Fighter (trái) và J-7 Jet Fighter (phải) của TC thời đó có khả năng rất hạn chế.