Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐP quân. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn ĐP quân. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Nhân chứng kể chuyện sống ở đảo Hoàng Sa (Trần Thế Đức)

Hình ảnh Vẻ đẹp quần đảo Hoàng Sa số 3

Hoàng Sa Qua Những Nhân Chứng
Trần Thế Đức

--------------------------------------------------------------------------------

(Trích tập san Sử Địa số 29, xuất bản tại Saigon năm 1975)

Biến cố Hoàng Sa xảy ra đầu năm 1974 ở cách xa đất liền nên chỉ những người có mặt trong cuộc mới biết rõ sự việc xảy ra. Về phía Việt Nam, những quân nhân trên các chiến hạm là những người mục kích trận hải chiến; những quân nhân mới đổ bộ lên các đảo cũng biết được một vài sự kiện; những quân nhân đồn trú từ lâu trên đảo, cũng như các nhân viên khí tượng cũng thấy được phần nào biến cố tại quần đảo này.


Với tai nghe, mắt thấy, da thịt xương chịu đựng, và con tim rung động, những nhân vật kể trên ghi nhận được không nhiều thì ít những sự việc xảy ra. Tuy vậy, không ai giống ai. Có ngườic có giác quan bén nhạy. Có người có giác quan lờ đờ. Trí thức của mỗi người được đào luyện cũng khác nhau. Vì thế sự ghi nhận sự việc do mỗi người cũng không hoàn toàn giống nhau.

Thiếu tá Phạm Văn Hồng - Trưởng toán công binh ở Hoàng Sa

Hoàng Sa nổi sóng

Biến cố Hoàng Sa xảy ra cách nay đã tròn 40 năm (1974-2014). Trong biến cố này, người viết đã bị sa cơ vào tay Trung Cộng và bị giữ tại Trại Thu Dung Tù Binh huyện Huyền Hóa, tỉnh Quảng Đông, thành phố Quảng Châu đúng 4 tuần lễ (bị bắt ngày thứ bảy và trả về cũng ngày thứ bảy 4 tuần sau) sau khi lênh đênh trên biển trong vùng lãnh hải Hoàng sa chỉ có 4 ngày.

Tuy đã 40 năm nhưng mọi sự kiện vẫn như in, tưởng như đang diễn tiến từng giây từng phút, mặc dầu vài chi tiết nhỏ nhặt về thời gian có thể không chính xác, vì tuổi tác gặm nhấm trí nhớ khiến đôi lúc cũng hay lang thang đâu đó.

Viết lại biến cố Hoàng sa với tiêu đề HOÀNG SA NỔi SÓNG là vì sau trận hải chiến, khi trở về, người viết có ghi lại từng chi tiết trận đánh trong một cuốn hồi ký hơn 300 trang đặt tựa đề là HOÀNG SA NỔI SÓNG, nhưng tiếc thay tập hồi ký đã bị hẩm hiu nằm trong xó tủ vì Bộ Thông Tin Dân Vận Chiêu hồi thời điểm đó không chấp nhận cho xuất bản với văn thư trả lời là: “Hồi ký HOÀNG SA NỔI SÓNG của Thiếu tá Phạm Văn Hồng chưa thích hợp trong giai đoạn này!”

Hôm nay, tóm lược lại sự kiện, người viết không muốn tường thuật lại trận đánh, bởi việc này, theo thiển ý, đó là nhiệm vụ của bên Hải quân, và thực sự họ cũng đã làm. Những con số tổn thất đôi bên phải dựa vào nhật ký hành quân thì may ra mới có những con số tạm chấp nhận được.

Người viết chỉ xin được tự trả lời cho câu hỏi của chính mình là tại sao lại xảy ra trận hải chiến Hoàng sa dù rằng câu trả lời có thể là chủ quan và sự hiểu biết quá hạn hẹp.

Trận Hải chiến Hoàng sa, không phải là một trận tao ngộ chiến, tình cờ Tuần Dương Hạm Lý Thường Kiệt HQ 16 có nhiệm vụ chở phái đoàn chúng tôi có 6 người gồm tôi, Trưởng đoàn, ông Gerald Kosh, nhân viên toà lãnh sự Hoa Kỳ tại Đà Nẵng, Trung uý công binh Vũ Hà thuộc liên đoàn 8 công binh kiến tạo, Trung uý Lê văn Đá thuộc liên đoàn 10 công binh chiến đấu và hai Hạ sĩ Quan công binh đi theo hai trung uý kể trên, gặp phải lực lượng Trung Cộng rôì dẫn đến trận chiến. Trái lại, tất cả đều được sắp xếp kỹ lưỡng từ trước mà phía Việt Nam Cộng Hoà chúng ta không lường được.

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

Tường thuật của Trung uý Võ Hà, Phó toán công binh

Điều chưa từng kể về trận tử thủ trên đảo Hoàng Sa
08:10 | 18/03/2014
40 năm sau trận chiến ở Hoàng Sa, các cựu binh tham chiến ngày xưa giờ đã già yếu. Suốt bao năm qua, họ là những chứng nhân lịch sử thầm lặng. Những câu chuyện của họ giá trị hơn bất cứ cuốn sách giáo khoa nào...
PV Dân trí tại Huế đã có cuộc gặp gỡ với một trong các cựu binh hiếm hoi tham gia trận tử thủ trên đảo Hoàng Sa.
Chứng nhân lịch sử
Chúng tôi đến gặp ông Võ Hà (đường Huỳnh Thúc Kháng, TP Huế) trong một chiều mưa tầm tã của xứ Huế. Người đàn ông đã ngoài 60 tuổi với mái tóc pha sương, chậm rãi nhắc về những ký ức cũ.
Tham gia trận Hải chiến Hoàng Sa khi chỉ mới 26, năm nay ông Hà đã 66 tuổi. Bốn mươi năm trước, ông là Trung úy, cấp bậc Đại đội phó thuộc Liên đoàn 8 Công binh kiến tạo, chuyên môn xây dựng cầu đường (thuộc Quân đội Việt Nam Cộng hòa).
Nhấp ngụm nước trà, ông bắt đầu kể lại:
Sau năm 68, cả miền Nam tổng động viên, lúc bấy giờ ông đang học cầu đường nên được biên chế vào công binh phụ trách kiến tạo, xây dựng.
Trước khi trận hải chiến 19/1/1974 nổ ra, phía Việt Nam Cộng hòa đã cử người ra đo đạc khảo sát tại đảo Hoàng Sa với ý định xây dựng sân bay dã chiến, lập bãi mìn xung quanh đảo đề phòng những cuộc tấn công của Trung Quốc. Do từ Đà Nẵng đi tàu ra đến Hoàng Sa cần 1 ngày đến 1 ngày rưỡi (170 hải lý), khoảng thời gian đó quá lâu nên cấp trên quyết định xây dựng sân bay dã chiến để rút ngắn thời gian đi lại và có chỗ để tiếp nhiên liệu cho máy bay, chuẩn bị cho những tình huống xấu nếu xảy ra chiến tranh. Kế hoạch chỉ mới kịp triển khai thì chiến sự đã nổ ra, cứ như phía Trung Quốc đã nắm thông tin từ trước.
Hải chiến Hoàng Sa: Câu chuyện chân thực từ chứng nhân lịch sử
Ông Võ Hà hiện ở nhà bán vật liệu xây dựng. Ông là người đã trực tiếp tham gia chiến đấu trong trận Hải chiến Hoàng Sa lịch sử
Nhiệm vụ theo đoàn ra Hoàng Sa lúc đó được giao cho một người bạn của tôi là Thiếu úy Trung đội trưởng. Nhưng lúc đó nó mới cưới vợ, chỗ bạn bè với nhau nên tôi đã đi giúp bạn, trong thâm tâm vẫn chỉ nghĩ đó là một chuyến đi công tác vài ngày.
Đoàn công binh nhận nhiệm vụ đo đạc khảo sát có tất cả 6 người. Trưởng đoàn là Thiếu tá Hồng (Phạm Văn Hồng). Tôi là Phó đoàn, cùng Hạ sĩ Nguyễn Văn Cúc là phụ tá của tôi và một cố vấn Mỹ, ông Gerald Kosh. Sĩ quan liên đoàn 10 công binh chiến đấu là Trung úy Đá. Và một số người nữa hiện tôi không nhớ lắm. Đúng 5h chiều, ngày 15/1 đoàn lên tàu HQ 16 đi ra Hoàng Sa.
Khoảng lặng trước "cơn bão"
Khoảng 9h sáng hôm sau, đảo Hoàng Sa hiện ra trước mắt chúng tôi. Lúc bấy giờ xung quanh đảo là san hô ngầm, Tuần Dương Hạm phải dừng cách đảo 1 hải lý, chúng tôi xuống canô chạy đến cầu tàu Lệ Thủy (cầu được xây dựng thời Ngô Đình Diệm đặt tên con gái ông là Ngô Đình Lệ Thủy) dài 300 mét và đi bộ qua bãi cát thêm 200 mét nữa. Hành trang lúc đó chỉ có máy trắc địa, lương thực, đồ đạc quân dụng.
Đảo Hoàng Sa lớn chỉ to khoảng bằng cồn Hến của Huế với diện tích cỡ 1x1,5km. 4 góc của đảo đóng 4 lô cốt phòng thủ. Ở chính giữa đảo là lô cốt chỉ huy. Đóng trên đảo là một trung đội địa phương quân thuộc Tiểu khu Quảng Đà do Thiếu úy Diêm chỉ huy, khoảng 35 người.
Ngoài trung đội phòng thủ, trên đảo còn có một đài khí tượng thủy văn do Đà Nẵng quản lý với 2 nhân viên túc trực ngày đêm thu nhận bản tin khí tượng và gửi vô tuyến điện về. Doanh trại trên đảo Hoàng Sa rộng khoảng 500 mét vuông. Chỉ huy đảo quản lý binh lính khá chặt, trừ khi có nhiệm vụ tuần tra, bình thường binh lính không được mang theo súng.
Ngoài các công trình quân sự, trên đảo còn có 1 giếng nước ngọt, 1 ngôi chùa, 1 tượng Phật Quan âm và 1 nghĩa địa của người Việt Nam đi khai thác phân lân thời Ngô Đình Diệm. Những ngày đầu tiên trải qua khá bình yên, nhiều anh em thoải mái ở trần, mặc quần cộc đi bắt cá, họ không cần mang súng ống đạn dược, không khí chiến tranh gần như không hề xuất hiện ở đây.
Đảo Hoàng Sa nơi ông Hà đã cùng đồng đội đặt chân lên trước vài ngày cuộc giao tranh dữ dội nổ ra
Đảo Hoàng Sa nơi ông Hà đã cùng đồng đội đặt chân lên trước vài ngày cuộc giao tranh dữ dội nổ ra
Nhiệm vụ của đoàn là trong 1 tuần sẽ thực hiện khảo sát, đo đạc, thu thập số liệu để lên kế hoạch xây dựng sân bay dã chiến, công trình phòng thủ tại đảo Hoàng Sa lớn. Ngoài ra còn thực hiện cắm mốc chủ quyền Việt Nam lên một số đảo, bãi san hô xung quanh. Kế hoạch này nhằm đối phó với những động thái nhòm ngó Hoàng Sa của Trung Quốc trong thời gian gần đây.
Xung quanh Hoàng Sa lớn cách 1-2 hải lý là khoảng 5 đảo nhỏ. Sau khi nghỉ ngời, khảo sát trắc địa đo vẽ xong, chúng tôi chạy canô qua chơi. Hàng đàn chim biển thi nhau bay ùa lên nhìn xa như những đám mây đen đang chuyển động. Anh em lên đảo lấy trứng chim chiên ăn, đổ ốp la và bắt trứng con vích nướng rất ngon. Tiếp theo là xách lựu đạn và bộc phá đi đánh cá. Chỉ cần thả một quả xuống mép nước sát đảo là hàng trăm con cá mú, hồng to bằng cái ghế lộ ra. Thiên nhiên hoang sơ nên chim cá nhiều vô kể. Ở Hoàng Sa thời ấy, cá khô, mực khô là những đặc sản không hề thiếu. Sau khi lính làm nhiệm vụ 3 tháng được trở về đất liền. Nhiều người xách cả mấy chục kí lô đặc sản về bán kiếm tiền.
Tàu lạ xuất hiện
Ngày thứ 3 lên đảo (18/1) có một chiếc tàu đánh cá lạ xuất hiện gần đảo. Binh lính đánh cờ báo hiệu (phất cờ Việt Nam cộng hòa lên để nhận dạng) nhưng chiếc tàu không đáp trả. Qua ống nhòm, chúng tôi nhận ra đó là tàu cá Trung Quốc với hai từ Hán “Nam Ngự”.
2 giờ sau, HQ16 đến và áp sát muốn đuổi tàu lạ đi thì bên dỡ lớp ngụy trang, cờ Trung Quốc. Thật ra đó là một chiếc thuyền hiện đại có trang bị súng đại liên. Tàu HQ 16 sử dụng các biện pháp như đánh tín hiệu đèn, vờn sau đuôi để đuổi tàu đi. Sự việc xảy ra nhiều lần, số lượng tàu tham gia bên Trung Quốc đã tăng lên gần chục chiếc lớn nhỏ. Phía chúng tôi có 4 chiếc tàu lớn là HQ 4, HQ 5, HQ 10 và HQ 16.
Một tuần công tác của nhóm công binh sắp kết thúc nhưng chúng tôi không thể quay trở về đất liền vì chiến sự có khả năng xảy ra bất cứ lúc nào. Đúng 10h sáng ngày 18/1, Hạm trưởng yêu cầu nhóm trở về đảo vì chúng tôi là bộ binh, nếu có chiến sự chúng tôi sẽ tham gia tử thủ trên đảo trong trường hợp xấu nhất.
Và điều ấy đã thật sự xảy ra...

Nổ súng
Kho vũ khí trên đảo đã được mở ra để trang bị cho mọi người. Vũ khí lúc đó chỉ gồm 2 khẩu cối 60, 1 cây đại liên 50 thời cũ của Pháp và hơn mấy chục khẩu tiểu liên M-16.
Những ngày sau đó, Trung Quốc đổ bộ chiếm các đảo xung quanh. Đêm 18/1, một trung đội hải kích phía Việt Nam bất ngờ đổ bộ chiếm lại các đảo đó và cờ. Tôi còn nhớ rõ những tiếng pháo, súng đì đùng xung quanh và tiếng hò reo của quân mình khi thắng.
Tối cuối cùng trước khi trận chiến xảy ra, bọn tôi ngồi quây quần với nhau và đàn hát những bài hát của Trịnh Công Sơn... Sáng 19/1, có thêm 4 tàu Trung Quốc đến gần Hoàng Sa, số tàu của địch tăng gấp đôi. Trận chiến nổ ra, tàu HQ 16 (Lý Thường Kiệt) bị hỏng. Nhật Tảo chìm (Hạm trưởng tử vong). Tàu HQ 5 và HQ 4 chạy thoát. Ngoài ra còn có một chiếc bè cứu sinh của thủy thủ HQ 10 chạy được vào đảo. Họ cùng trung đội quân địa phương đóng trên đảo Hoàng Sa đã bị cô lập…
Các tàu của Việt Nam tham gia trận hải chiến Hoàng Sa
Các tàu của Việt Nam tham gia trận hải chiến Hoàng Sa
Cú ném bộ đàm của Gerald Kosh
Sau trận hải chiến trên biển phía Hải quân rút lui, đảo Hoàng Sa còn có 35 lính địa phương, đoàn công binh 6 người kể cả cố vấn Mỹ, 2 nhân viên khí tượng cùng một số thủy thủ QH 10 tấp vào.
Tàu Trung Quốc bắt đầu bắn pháo vào đảo để dằn mặt, sau loạt pháo đầu, họ đặt loa nói vọng vào bằng tiếng Việt đề nghị chúng tôi đầu hàng, nếu sau 3 tiếng không có câu trả lời họ sẽ tấn công.
Thiếu tá Hồng chạy lên đài khí tượng sử dụng máy của đài bên đó để liên lạc về Đà Nẵng xin chỉ thị. Bên Hải Quân cho biết cứ yên tâm sẽ có yểm trợ. Chúng tôi nhận được lệnh phải tử thủ, sau 3h sẽ có tiếp viện đến phá vây. Điều này làm mọi người yên lòng hơn và lên tinh thần.
Lúc bị vây trên đảo, cố vấn Mỹ duy nhất Gerald Kosh nói với mọi người hãy yên tâm, ông ta sẽ gọi cho Hạm đội 7 của Mỹ đang đi tuần gần đó vào giải vây. Hy vọng mới nhen nhóm nhanh chóng biến thành bầu không khí ảm đạm đi khi ông ta liên tiếp hét vào bộ đàm. Cuối cùng khi Kosh ném bộ đàm, chúng tôi hiểu là mình phải nhanh chóng chuẩn bị cho cuộc tử thủ mà chỉ còn chắc mình chúng tôi - đơn độc.
Toàn cảnh trận hải chiến được ghi lại trên bản đồ
Toàn cảnh trận hải chiến được ghi lại trên bản đồ
Tử thủ trên đảo Hoàng Sa - điều chưa từng kể
Khoảng 10h sáng ngày 20/1, Trung Quốc cho canô chở lính đổ bộ vào đảo. Chiến thuật “biển người” tiếp tục được áp dụng, họ cho hàng trăm lính với nhiều súng ống, có cả lính thổi kèn xung phong dàn hàng ngang chạy vào từ cầu tàu Lệ Thủy - đường tiếp cận duy nhất. Chúng tôi cứ nhắm súng bắn vào từng hàng người, nhưng lính Trung Quốc đông quá, hết lớp này ngã xuống là lớp khác lại xông lên. Chẳng mấy chốc đã áp sát lô cốt phòng thủ của tôi.
Chúng tôi xả súng đến khi chỉ còn vài viên đạn trong băng thì nhận được lệnh rút về phía sau đánh cầm cự nhằm cố gắng kéo dài thời gian. Từng nhóm người rút về mỗi hướng trên hòn đảo nhỏ mong chờ sự tiếp viện.
Nhưng chúng tôi đã bị “thất hứa” khi không có quân tiếp viện nào cả. Lời của chỉ huy từ đất liền chỉ là lý do động viên tinh thần quân sĩ. Tàu HQ4 và 5 đã chạy về đất liền, kế hoạch chiếm lại Hoàng Sa cũng bị hủy bỏ. Sau này khi trở về, cấp trên giải thích với chúng tôi là nếu đánh thì chỉ thí quân. Khoảng 13h ngày 20/1, sự chống cự bị dập tắt, người hi sinh, người bị bắt.
Tôi không nhớ rõ lắm nhưng có thể dưới 20 người phía Việt Nam đã chết. Còn lại 45 người cùng 2 nhân viên khí tượng và 1 cố vấn Mỹ (tất cả 48, đây là số lượng tính cả một số lính biệt kích của phía Việt Nam đánh các đảo nhỏ xung quanh đảo Hoàng Sa vào ngày 19/1 sau đó bị Trung Quốc đánh quật trở lại và bắt sống trong ngày 20/1).
Ông Hà cho biết nhiều điều quan trọng trước đây chưa từng kể và cũng chưa báo nào có ngoài
Ông Hà cho biết nhiều điều quan trọng trước đây chưa từng kể và cũng chưa báo nào có, ngoài Dân trí qua cuộc trò chuyện
Số lượng quân Trung Quốc ngã xuống không thể đếm hết, khoảng phải gần 100 nhưng họ không được tính vào các số liệu. Tôi xác nhận có người chết bên phía Việt Nam trên đảo nhưng không nhớ rõ số lượng lắm và một số bị thương vì tôi là người trực tiếp trên đảo cho đến khi bị bắt. Trong đó có Trung úy Đơn là người chết trên đảo mà tôi chứng kiến. Sở dĩ trên mạng chưa có số lượng người chết vì không có ai trực tiếp trên đảo. Mà trước đây chỉ nói đánh trên biển. Tôi là người tử thủ đảo từ đầu cho đến khi bị bắt. Báo Dân trí là báo đầu tiên có được thông tin này, trước đây các báo khác chưa có.
Chúng tôi tận mắt nhìn thấy họ (những binh sĩ sống phía Trung Quốc) lột áo quần của những xác người là đồng đội họ và ném xuống biển, tôi lạnh người và nghĩ rằng mình chết chắc rồi. Tôi xác nhận thông tin này một cách chính xác.
Cho đến 10h đêm hôm đó, một sĩ quan Trung Quốc nói với chúng tôi qua phiên dịch tiếng Việt “Chúng tôi coi các anh là tù binh”. Tù binh - Như vậy đồng nghĩa chúng tôi sẽ không bị giết.
Chúng tôi bị đưa đến đảo Hải Nam và giam lại. Nhóm sĩ quan tiếp tục bị đưa đến Quảng Châu giam chung với các tù binh Liên Xô, Ấn Độ,… Một tháng sau, nhóm tù binh đầu tiên trong đó có tôi được đưa về Thẩm Quyến để đến Hồng Kông và trả về nước.
Gerald Cosh (người đi bên trái) ngày trao trả tù binh ở trận Hoàng Sa
Gerald Cosh (người đi bên trái) ngày trao trả tù binh ở trận Hoàng Sa (đăng trên báo The Times, số ra ngày 31/1/1974)
Tại Hồng Kông lúc đó có rất nhiều phóng viên nước ngoài của các báo danh tiếng như Times, The Times… đang túc trực để lấy tin về trận chiến Hoàng Sa. Về Việt Nam chúng tôi được thăng 1 cấp và phong danh hiệu “Anh Hùng Hoàng Sa” - Đó là sự tuyên dương vì chúng tôi đã không kéo cờ trắng đầu hàng. Nếu làm điều ngược lại, số phận chúng tôi sẽ là vành móng ngựa của tòa án binh.
Tôi nghĩ nếu thời gian đó, nếu chúng tôi xây dựng được bãi mìn xung quanh đảo ở những rặng san hô bao quanh và được máy bay hỗ trợ tiếp tế đạn dược và có lực lượng hỗ trợ thì mình chưa chắc thua nhanh đến thế. Việc giữ đảo là khó nhưng đánh đảo còn khó hơn vì chỉ có 1 đường duy nhất theo cầu tàu Lệ Thủy tiến vào. Mất đảo Hoàng Sa thật là điều đáng tiếc.
Đại Dương - Văn Danh - Anh Việt (Ghi)/ theo Dantri

Báo Tuổi trẻ (4 nhân chứng): Hoàng Sa - nơi tôi đã sống

15/01/2012 07:40 GMT+7
TT - Cách đây đúng 38 năm, tháng 1-1974, đúng vào dịp tết, Hoàng Sa của Việt Nam đã bị Trung Quốc xâm chiếm. Từ đó đến nay, chưa bao giờ quần đảo Hoàng Sa bị lãng quên trong lòng người dân Việt.
Kỳ 1: Quãng đời đặc biệt 

Ông Nguyễn Văn Thành - nhân viên thông tin truyền thông trên đảo Hoàng Sa - Ảnh tư liệu
Mãi đến nay, đã gần 40 năm qua mà trong ký ức tôi vẫn còn nhớ như in những kỷ niệm vui buồn tại đảo Hoàng Sa. Bởi đó là quãng đời đặc biệt mà tôi đã từng sống và làm việc. Tôi đã từng sống trên đảo hai đợt, mỗi đợt hơn ba tháng.
Ký ức chuyến ra đảo đầu tiên làm tôi nhớ mãi. Phải thú thật là lúc nhận được lệnh đi đảo Hoàng Sa, tôi cũng lo sợ. Mặc dù trước đó có rất nhiều người đã đi, nhưng lần đầu tiên phải xa vợ con trong thời gian dài và không biết cuộc sống trên đảo thế nào.
Tôi còn nhớ thành phần ra đảo lúc đi khá đông, khoảng hơn 20 người kể cả bốn nhân viên khí tượng. Chúng tôi đến từ những vùng quê khác nhau của VN.
Chúng tôi tập trung tại Hội An, đi mua sắm vật dụng cá nhân cho mình, mua lương thực thực phẩm phục vụ cho đoàn cũng như một số vật nuôi, con giống để ra đảo tăng gia sản xuất như heo, gà, vịt, hạt rau muống, hạt đậu xanh...
Sau khi chuẩn bị xong, xe đưa chúng tôi ra Đà Nẵng để lên tàu và xuất phát ra đảo từ đó. Khi được lệnh lên tàu và khởi hành, anh em trên tàu mỗi người mỗi tâm trạng. Nhưng rồi ai cũng có cảm giác hân hoan vì lần đầu được lênh đênh trên mặt biển, để khám phá vùng đất thuộc lãnh hải của Tổ quốc mà mình chưa biết.
Theo kinh nghiệm, nếu thời tiết tốt thì thời gian ra đến đảo mất khoảng 21 tiếng. Tàu của chúng tôi khởi hành khoảng 14 giờ hoặc 15 giờ hôm trước thì hôm sau khoảng 10 giờ hoặc 11 giờ đến. Dù thủy triều cao hay thấp thì trong tàu luôn trang bị xuồng cao su để đưa người và vật dụng lên bờ.
Tại đảo có một chiếc cầu, tạm gọi là cầu cảng. Từ đầu cầu vào nhà ở khoảng 400-500m. Nếu nhớ không lầm thì ở phía bên phải của cầu có một chiếc tàu sắt đã gỉ sét. Nghe những người đi trước kể lại, đó là tàu của bà Ngô Đình Nhu ra đảo chở phân chim bị hỏng và bỏ lại.
Khi bước chân lên đảo tôi thấy ở cầu cảng có đường ray (hẹp hơn đường ray tàu hỏa) và năm chiếc xe rùa, không biết ai đã xây dựng và để lại nơi này. Tất cả anh em dùng những chiếc xe rùa này để di chuyển vật dụng, thức ăn, nước uống vào nhà. Hai bên đường vào nhà toàn là đá vôi, cây phốt phát, cây nhàu và một số cây lạ khác.
Nhà chúng tôi ở trên đảo được xây dựng rất kiên cố, bề dài khoảng 30-40m, bề ngang khoảng 20m. Nhà được ngăn thành bốn phòng: phía bên phải có một phòng để dùng làm nhà kho, một phòng cho binh sĩ ở, phía bên trái một phòng dành cho đảo trưởng và lính truyền tin, còn căn phòng rộng nhất dùng để sinh hoạt. Nhà rất kiên cố nhưng tất cả cửa lớn nhỏ đều đã hư hỏng vì thời gian nên mỗi khi có mưa gió rất cực khổ. Phía dưới nền nhà được đúc suốt dùng làm hầm chứa nước để dự trữ.
Phía trên trần nhà cũng đúc bêtông và được đặt hai khẩu súng đại liên 50 li, một khẩu đã hỏng và một khẩu còn dùng được. Tất cả vật dụng cũng như súng ống và đạn dược thì đảo trưởng cho lau chùi sạch sẽ vô dầu mỡ và cất vào kho. Ngoại trừ có ít lựu đạn đảo trưởng cất giữ để đánh bắt cá. Đây thật ra cũng là chủ ý của đảo trưởng, sợ anh em khi có xích mích, nóng giận mà sử dụng thì rất nguy hiểm.
Trước mặt nhà ở khoảng 150m có một nhà thờ Thiên Chúa giáo, trong có treo một cây thánh giá và tượng chúa Giêsu, thường những anh em có đạo hay đến cầu nguyện. Trước nhà thờ khoảng 50m có một cái giếng dùng được, bên cạnh có một cây dừa. Phía sau nhà ở có một con đường mòn nhỏ mà anh em thường ra đi dạo và đánh bắt cá. Phía bên phải có một cái miếu ở trong cũng thờ tự và cạnh bên có những ngôi mộ phần nhiều là vô danh.
Cạnh nhà chúng tôi ở khoảng 50m là nhà ở của anh em quan trắc khí tượng. Chúng tôi rất mến nhau, thường chia sẻ cho nhau những mẻ cá và anh em có gì ngon cũng đem cho chúng tôi.
Ấn tượng nhớ nhất của tôi là lần đầu dạo quanh đảo, khi đến cầu cảng nhìn xuống biển thấy rất nhiều cá bơi lội, tôi vội ném xuống một quả lựu đạn. Sau tiếng nổ, cả một vùng nước chuyển sang một màu đen sì, ba chúng tôi nhảy xuống bơi lặn mãi mà cũng chẳng tìm thấy con cá nào. Lúc đó tôi có phần run sợ, lạnh nổi cả da gà vì rõ ràng cá bung lên mặt nước rất nhiều. Sau này mới rõ đó là đàn mực đang bơi. Mực không có bong bóng nên không chết tức do tiếng nổ gây nên.
Với tôi, cuộc sống trên đảo khá nhàn rỗi. Ngoài giờ ấn định phải điện để liên lạc hằng ngày với tiểu khu Quảng Nam thì tôi, đảo trưởng cũng như những binh sĩ khác thường xuyên đi đánh bắt cá. Việc đánh bắt cá không chỉ để phục vụ các bữa ăn mà còn phơi khô để lúc về đất liền dùng làm quà. Khi đi ra đảo chúng tôi cũng có chuẩn bị lưới đánh cá. Lúc nước biển bắt đầu cạn, chúng tôi dùng lưới giăng ngang mí sóng (khúc cạn gần bờ) rồi từ trong bờ hè nhau đuổi ra là có cá bắt được. Nhưng khi gặp cá nhám thì chúng sẽ xé tung lưới mà đi.
Những lúc nước xuống nhiều thì chúng tôi lội đi bắt ốc gân, nhiều con rất lớn, có thể bằng chiếc nón. Chúng tôi dùng lưỡi lê xẻ ngay tại chỗ, chỉ lấy cái gân (phần của ốc dùng để khép và mở miệng) đem về xẻ ra phơi khô (còn ngon hơn khô mực) để mang về làm quà. Những lúc không làm gì thì chúng tôi tưới cây, những hạt giống mang theo gieo rất tốt, đậu xanh, rau muống, bí đỏ. Có những quả bí chỉ mới trồng khoảng ba tháng mà rất lớn, một người bê rất khó.
Thức ăn trên đảo qua những ngày đầu nào thịt gà, vịt, heo, đến lúc hết thì chỉ cá và rau cỏ trồng. Nhớ những lúc rau muống chưa kịp lên thì dùng cá nấu với lá ớt làm canh. Ban đêm chúng tôi chia từng tốp dạo quanh đảo tìm những con rùa biển (còn gọi là con vích) lên bãi cát để đẻ. Khi bắt được, chúng tôi lật ngửa nó ra để sáng hôm sau xẻ thịt. Thịt của nó rất ngon, cái thì ăn cái thì phơi khô, riêng trứng thì tròng đỏ đổ (chiên) làm chả, không thể luộc được vì tròng trắng của nó không bao giờ chín. Lúc chẳng biết làm gì thì người đánh đàn, kẻ đánh bài ăn thua nhau bằng thuốc lá hoặc khô cá.
Cuộc sống nhàn rỗi trên đảo khiến anh em buồn và nhớ nhà, thỉnh thoảng lại có một binh sĩ khóc suốt cả đêm liền.
Ký ức của tôi chỉ tạm tái hiện phần nào. Bởi lẽ hơn 40 năm rồi tôi không thể diễn tả hết những gì mình đã nhớ trong quãng thời gian sống trên đảo. Tôi mong sao Chính phủ đấu tranh để giành lại quần đảo Hoàng Sa, giành lấy chủ quyền lãnh hải của Tổ quốc.

NGUYỄN VĂN THÀNH

Kỳ 2: Mấy mươi năm nghẹn ngào
6/01/2012 09:40 GMT+7
TT - Lần đầu tiên tôi được ra công tác tại quần đảo Hoàng Sa là giữa mùa thu năm 1971.
Phóng to
Quân đội Sài Gòn phòng thủ tại Hoàng Sa trước năm 1974 - Ảnh tư liệu
Năm ấy tôi 19 tuổi. Chúng tôi lên tàu ở cảng Tiên Sa, Đà Nẵng. Khoảng 16g chiều hôm trước - tàu chạy luôn đêm, đến Hoàng Sa vào 6-7 giờ sáng hôm sau. Những người lên đảo đợt đó có lẽ tôi là người trẻ nhất. Có mặt ở nơi đây, tôi nhớ mãi đó là đợt 45.
Tôi ra đảo để đổi cho đợt 44 đã hết nhiệm vụ. Người đầu tiên tôi gặp là anh Tạ Song - y tá của đợt 44. Cũng như bao người khác mỗi lần công tác là ba tháng, nhưng có đợt hơn thế nữa vì biển động mạnh tàu không ra được để đổi. Tôi ra đảo với nhiệm vụ là y tá, chữa và cấp thuốc cho anh em gặp phải những chứng bệnh thông thường, còn bệnh nặng báo với đảo trưởng xin tàu chở về đất liền.
Phải nói rằng được công tác tại quần đảo Hoàng Sa là một vinh dự lớn đối với những người lính chúng tôi. Song cũng có ít nhiều lo lắng và băn khoăn. Không biết đến Hoàng Sa sẽ ra sao? Vì Hoàng Sa cách đất liền hàng trăm cây số mênh mông biển nước và ở đó những ba tháng.
Tàu đến quần đảo Hoàng Sa hạ neo ngoài khơi. Chúng tôi di chuyển vào đảo bằng thuyền cao su (bơm hơi) có gắn máy nổ. Khi thuyền cao su cập bến, đặt chân lên cầu tàu để đi vào đảo, tôi thật sững sờ khi thấy đường vào đảo hai bên san hô chất cao hơn đầu người, cộng vào đó dây leo bao che kín như vào một hang động. Tôi đứng lặng hồi lâu. Đến khi anh Tạ Song hỏi: ai là y tá đi theo tôi nhận bàn giao? Lúc ấy tôi mới lần bước theo anh.
Ngày đầu tiên sống trên đảo thấy thời gian trôi thật chậm. Nhớ gia đình, nhớ bạn bè, đất liền lắm vì hồi đó tôi quá trẻ. Sau thời gian ngắn cuộc sống vui vẻ và thoải mái hơn vì quen rồi.
Mỗi buổi sáng chúng tôi dậy rất sớm, rủ nhau đi tập thể dục. Nói cho oai vậy thôi chứ tập gì. Đi bộ quanh đảo để tìm những chiếc phao thủy tinh mà tàu đánh cá nước ngoài bị đứt trôi dạt vào đảo. Chúng tôi hay gọi là trái bóng, lấy cất sau này đem về đất liền cắt ra làm chậu nuôi cá cảnh. Hoặc tìm đường đi của mấy chú vích (rùa biển) để đêm lấy trứng về cải thiện bữa ăn.
Phóng to
Bia chủ quyền của Việt Nam trên quần đảo Hoàng Sa trước năm 1974 - Ảnh tư liệu
Anh Hai Song về đất liền có để lại cho tôi một ít dụng cụ câu cá. Ban đêm thì câu ở cầu tàu, ban ngày lội ra bãi san hô câu. Với đồ nghề câu anh Hai Song để lại, tôi đã câu được con cá khế khoảng 15kg. Cá, ốc ở Hoàng Sa rất nhiều.
Hoàng Sa không có núi nên cây cối cũng không lớn lắm. Ngoài dừa, dương liễu, nhãn thì chẳng có cây nào lớn hơn thế. Vậy mà không nắng nóng lắm, chắc nhờ gió biển. Cũng ở đợt này năm ấy có cơn bão lớn đi ngang qua đảo, biển động mạnh, sóng cao như mái nhà.
Sau hai lần công tác ở đảo, điều mà tôi không quên được đó là hai lần công tác tôi đều gặp được ông Võ Vĩnh Hiệp - ông là người của nha khí tượng Sài Gòn đưa ra để làm công tác khí tượng. Ông là người bị dị tật bẩm sinh cả tay và chân, thế mà ông chơi rất hay nhiều loại đàn.
Ông đã dạy đàn cho tôi hai đợt như vậy. Sau khi bị Trung Quốc bắt ông được trao trả sau năm ngày, tôi đã nhờ ông báo tin cho gia đình tôi là tôi vẫn còn sống và bị giam giữ tại Trung Quốc.
Nếu như thống kê thì ông Hiệp đã sống và làm việc tại Hoàng Sa hơn 30 lần.
Khu đồn trú của lính địa phương quân VN trên đảo Hoàng Sa (ảnh chụp năm 1959) - Ảnh tư liệu
Lần thứ hai tôi được ra đảo khoảng tháng 10-1973. Đợt ấy là đợt 54. Lần đi này tôi đã có kinh nghiệm hơn vì đã sống ở đây ba tháng rồi. Nên cuộc sống vui vẻ thoải mái hơn nhiều. Lẽ ra sau đợt công tác này tôi về sẽ cưới vợ, còn khoảng một tuần nữa là về thì bị Trung Quốc đem tàu chiến, binh lính đến chiếm đảo. Lúc ấy có cả đoàn giám sát thiết lập phi trường trên đảo bị kẹt lại, trong đó có một người Mỹ.
Mặc dù chúng tôi đã phân chia nhiệm vụ chiến đấu và giữ lấy đảo vì đảo là chủ quyền của chúng ta. Nhưng lính Trung Quốc đông quá cùng tàu chiến nhiều. Cuối cùng họ cũng chiếm được Hoàng Sa.
Tôi cùng 32 người khác bị bắt về đảo Hải Nam. Sang tàu khác thì có thêm 21 người lính hải quân bị bắt ở đảo khác. Họ đưa chúng tôi về cảng Quảng Châu, Trung Quốc, sau đó đưa chúng tôi về trại thu dung tù binh ở Quảng Châu bằng ôtô.
Ở đây khoảng một tháng, chúng tôi được trao trả cho Hồng thập tự quốc tế ở biên giới Thâm Quyến và Hong Kong. Và Hồng Thập tự quốc tế giao trả chúng tôi cho chính quyền Sài Gòn.
Lâu quá rồi tôi cũng không còn nhớ nhiều về Hoàng Sa, về quang cảnh trên đảo. Nhưng ngôi nhà nguyện, miễu Bà, cầu tàu, giếng nước... luôn ở trong tôi. Và đặc biệt là khu nghĩa trang với khoảng 50-60 ngôi mộ của những người đã sống và bảo vệ đảo, bảo vệ chủ quyền cho đất nước.
Mới đó mà đã gần 40 năm - từ ngày chúng tôi bị bắt đến nay - không có người VN nào được đặt chân lên đảo Hoàng Sa nữa. Nghĩ mà thấy nghẹn ngào...

LÊ LAN 

Kỳ 3: Những ngày tháng không bao giờ quên
17/01/2012 09:14 GMT+7
TT - Cứ đến tháng giêng hằng năm là tôi không sao xua được cảm giác thẫn thờ mất mát, bởi những ký ức về vẻ đẹp hoang sơ của Hoàng Sa cũng như ký ức đau buồn khi chứng kiến Hoàng Sa bị rơi vào tay hải quân Trung Quốc vào ngày 19-1-1974.
Mảng ký ức đó cứ lởn vởn trong đầu, như chỉ xảy ra vào hôm qua.
Phóng to
Ông Nguyễn Văn Cúc (trái) và đồng đội ở Hoàng Sa năm 1973 - Ảnh tư liệu gia đình ông Cúc
Tôi có duyên với biển cả, với đại dương và cả với Hoàng Sa. Sinh ra trong một gia đình làm nghề đánh bắt cá, tuổi thơ của tôi gắn liền với biển. Nhưng khi lớn lên, tôi chọn một nghề không liên quan tới biển, vậy mà cuộc đời đưa đẩy tôi lại công tác tại quần đảo Hoàng Sa. Giờ nghĩ lại, tôi thấy mình may mắn được làm việc, được cống hiến sức trẻ tại mảnh đất thiêng liêng ấy và tôi muốn chia sẻ để mọi người được biết, để con cháu thế hệ mai sau luôn biết rằng Hoàng Sa vô cùng tươi đẹp là một phần của Tổ quốc Việt Nam, hãy ghi nhớ Hoàng Sa là của Việt Nam và hãy giành lại chủ quyền Hoàng Sa. Ước vọng lớn nhất của đời tôi là một lần nữa được đặt chân đến Hoàng Sa để lại được sống trong không khí mát lành của biển cả, xua tan cảm giác nhớ mong.
Tôi được điều đi Hoàng Sa để khảo sát, sửa chữa và xây thêm bể ngầm chứa nước mưa, lấy nước ngọt phục vụ cả quần đảo. Cả thảy tôi ra Hoàng Sa được ba lần. Lần đầu là đầu năm 1973. Lúc đó tôi chỉ ra hai ngày để khảo sát tình hình các bể chứa nước cũ, ước lượng nguyên vật liệu cần thiết để lần sau mang ra đảo. Lúc tàu gần đến đảo, tôi có cảm giác lâng lâng khó tả vì sắp đặt chân lên vùng đất thiêng liêng.
Ở trên đảo một ngày, tôi cùng năm người nữa đi tham quan đảo chim. Đây là cảnh tượng làm tôi thích thú và ngạc nhiên nhất khi ở Hoàng Sa. Trên đảo có vô số chim và con vích đẻ trứng, đặc biệt chúng không sợ sự xuất hiện của chúng tôi. Cảnh tượng hoang sơ với những hốc đá và nhiều chim biển làm chúng tôi cảm thấy thích thú.
Lần thứ hai tôi ra đảo là bắt tay vào sửa chữa, xây dựng các bể ngầm chứa nước ngọt. Các bể này xây từ thời Pháp thuộc. Khoảng 20 bể, mỗi bể chứa khoảng 1.000m3 nước, được xây ngầm xung quanh ngôi nhà để chứa nước mưa từ trên trần nhà đổ xuống. Đây là khoảng thời gian lâu nhất tôi ở Hoàng Sa. Ở trên đảo, một ngày trôi qua rất bình dị, sáng dậy tập thể dục sau đó ăn cơm rồi bắt tay vào làm việc. Công việc được phân chia cụ thể, rõ ràng cho từng người nên ai làm việc nấy, tới giờ ăn trưa, đi ngủ rồi làm tiếp. Buổi chiều khi công việc đã xong, tôi thường lang thang đi dạo xung quanh đảo và hay đến cầu tàu ngồi hóng gió. Đó là những lúc tôi nhớ nhà nhất. Khi tôi ở ngoài đảo thì vợ tôi mang thai đứa con thứ hai. Để quên đi nỗi nhớ nhà, thỉnh thoảng tôi cùng anh em chơi đá bóng hay đi câu cá, bắt ốc. Đó là thú vui chính của chúng tôi.
Phóng to
Đào giếng nước ngọt trên đảo Hoàng Sa năm 1938 - Ảnh tư liệu
Tôi không nghĩ lần thứ ba ra đảo để lấy mẫu đất, khảo sát thực địa, làm sân bay cũng là lần ra đảo cuối cùng. Khi đã lấy được mẫu đất, khảo sát xong thực địa chúng tôi lên tàu rời khỏi đảo về đất liền. Đang lênh đênh trên biển thì gặp tàu chiến của Trung Quốc. Họ áp sát tàu chúng tôi, buộc quay về lại đảo. Cảm giác bàng hoàng khi trực tiếp chứng kiến Hoàng Sa bị chiếm. Cảm giác đau đớn và xót xa khi thấy mảnh đất của Việt Nam rơi vào tay kẻ khác.
Sau một ngày bị bắt giữ trên đảo, lính Trung Quốc cho tàu nhỏ chở chúng tôi về đảo Hải Nam. Sau đó đưa chúng tôi lên tàu lớn về Quảng Châu - Quảng Đông (Trung Quốc). Chúng tôi ở đó cả tháng trời. Đó là lần đầu tiên tôi đón tết ở nơi đất lạ, cảm giác hờn tủi đau đớn khi ăn tết xa quê hương, vợ con, bên cạnh đó lại mang nỗi niềm chua xót khi Hoàng Sa bị chiếm giữ. Trung Quốc trao trả chúng tôi cho Hồng thập tự quốc tế tại Hong Kong. Tôi là một trong năm người đầu tiên được trao trả. Chúng tôi lên máy bay về sân bay Tân Sơn Nhất. Rồi về Đà Nẵng. Niềm vui được đoàn tụ cùng gia đình, được quay về quê hương đất nước cũng không thể xua tan nỗi buồn mất Hoàng Sa.
Tôi có đôi lời nhắn nhủ con cháu cũng như các thế hệ mai sau là cần phải hiểu rõ lịch sử của Hoàng Sa, về sự gian khổ, khó khăn đi khai phá giữ gìn Hoàng Sa của cha ông từ thời chúa Nguyễn. Luôn ghi nhớ Hoàng Sa là của Việt Nam. Bằng mọi giá phải lấy lại chủ quyền Hoàng Sa cho Việt Nam.
Vùng đất này chỉ trồng dương liễu và cây nhàu, rất khó có thể trồng được loại rau quả nào. Bên bãi trồng cây dương liễu có một cái miếu, có tượng đồng đen và xung quanh có khoảng 25 ngôi mộ được đắp bằng đất. Người trên đảo nói miếu đó rất linh thiêng. Nghe đâu năm 1968 có ông thuyền trưởng định đưa tượng đồng đen về chùa ở Đà Nẵng để thờ, nhưng khi chuẩn bị vào cúng thì chiếc thuyền cứ xoay vòng, không thể tiến về bến cảng. Ông thuyền trưởng thấy vậy đem tượng trở lại miếu. Tôi ăn tết ở ngoài đảo nên mồng 1 tết tôi có ra miếu để thắp hương.
Ở ngoài đảo sợ nhất là cảnh thiếu nước, chúng tôi sử dụng nước mưa, được chứa ở các bể ngầm xung quanh nhà khí tượng. Tôi đã chứng kiến ba lần bị thiếu nước, mỗi lần kéo dài khoảng 10 ngày. Khát quá nên chúng tôi lấy nước giếng lên để dùng, nhưng nước giếng chỉ uống được khi còn nóng, để nguội rất khó uống. Uống nước giếng này liên tục ba ngày sẽ bị đau bụng, nhưng thuốc men lại không có. Anh em lúc đó chia sẻ với nhau từng thìa đường, miếng sữa. Những lúc đó mới thấm được tình cảm của anh em xa nhà như thế nào.
__________
NGUYỄN VĂN CÚC

Kỳ cuối: Tiếng chim cuốc Hoàng Sa
18/01/2012 07:02 GMT+7
TT - 38 năm đã trôi qua. 38 năm làm thay đổi bao nhiêu là sự việc. Nhưng trong tôi 38 năm như chỉ mới hôm qua. 
Những phụ nữ Việt Nam trên đảo Hoàng Sa (1940) - Ảnh tư liệu
Khoảng tháng 10-1973, tôi cầm sự vụ lệnh về tiểu khu để nhận thuốc men đi đảo Hoàng Sa.
Tôi lúc đó tuổi đôi mươi. Không vướng bận vợ con, chút máu lãng tử trong người trỗi dậy. Hơn nữa nghe truyền thuyết kể rằng: “Ngày xưa triều đình lập đội Hoàng Sa. Khi đưa tiễn và đi giữ biển đảo quê hương, họ được xem như những anh hùng, một đi không trở lại”. Còn mình hôm nay tàu to, súng lớn có gì mà e sợ.
Chiều hôm đó chúng tôi có mặt tại cảng Tiên Sa. Chiếc tàu “Hương Giang 404” sừng sững uy nghi đang sẵn sàng vượt trùng khơi.
Tập kết lương thực, súng ống xuống tàu xong, tàu nhổ neo. Tạm biệt đất liền chúng tôi vượt biển đến Hoàng Sa.
Sau một đêm vật vã vì biển động mạnh, sáng hôm sau tàu đến đảo. Hải đảo Hoàng Sa như một dải cát vàng trải dài trong nắng sớm. Nước quanh đảo xanh như mạ non. Từng đợt sóng lăn tăn đuổi nhau vào bờ, tạo nên một không gian thanh bình yên ả.
Tôi thật sự choáng ngợp. Quê hương ta đẹp biết bao!
Bàn giao giữa hai toán quân xong, chúng tôi ở lại, anh em đợt trước về đất liền.
Mặt trời lặn xuống biển. Hoàng hôn vừa trùm lên đảo. Bỗng tiếng con chim cuốc trong rừng bàng kêu lên từng hồi, tạo cho cảnh kẻ ở người về buồn man mác. Tiếng cuốc kêu sao da diết nhớ thương.
Rồi thời gian cũng qua đi, chúng tôi thích nghi dần với cuộc sống của một cư dân trên đảo.
Chúng tôi chia thành năm tổ, mỗi tổ bảy người. Nhà ở thì có một tòa nhà đúc bêtông, có sân thượng và một vọng gác, trên đó có một khẩu súng 12,7 li, dưới nền nhà là hầm chứa nước mưa để uống. Kế bên tòa nhà của lính là đài khí tượng. Ngoài biển vào có một cầu tàu có đường ray để vận chuyển vào đảo và từ đảo ra tàu nhưng nay đã hư hoàn toàn.
Trên đảo cũng có nhà thờ và chùa nhưng đã hoang phế, chỉ có ngôi miếu là còn tươm tất. Đặc biệt trên đảo Hoàng Sa có một giếng nước ngọt mà các đảo khác không có.
Phóng to
Bia chủ quyền Việt Nam do người Pháp dựng ở Hoàng Sa năm 1938. Trên bia có ghi rõ: Vương quốc Đại Nam 1816 - năm vua Gia Long bắt đầu thực thi chủ quyền của Việt Nam tại các đảo Hoàng Sa - Ảnh tư liệu
Biển đảo hiền hòa và hào phóng. Cung cấp hải sản không thiếu một thứ gì! Nhưng cũng có lúc nổi cơn giận dữ, biển thét gào với những trận cuồng phong. Những đợt sóng cao như trái núi lừ lừ tiến vào đảo trông thật kinh hoàng, nhưng điều may mắn là Hoàng Sa chưa bao giờ ngập trong sóng biển.
Có một lần biển động, bão đến bất ngờ. Một tàu cá Trung Quốc không kịp vào bờ tránh bão nên đã tấp vào đảo ngay trong đêm. Bão mạnh dần, chiếc tàu cá bị đánh dạt mất giữa biển khơi.
Phương tiện không còn, gia đình ngư dân Trung Quốc kia lại trở thành cư dân bất đắc dĩ của đảo.
Mặc dù lương thực sử dụng đã được tính toán chi li, nhưng tình người trong cơn hoạn nạn, ai nỡ ăn no để nhìn người khác đang đói. Vậy là toàn đảo sẻ chia, cưu mang gia đình Trung Quốc kia cho đến ngày họ xin được tàu về lại quê hương.
Ngày chia tay họ cũng ôm hôn anh em trên đảo, ngôn ngữ bất đồng nhưng trong đôi mắt hiện lên bao sự quyến luyến và biết ơn những người Việt Nam.
Thế rồi những ngày tiếp theo đó, tàu Trung Quốc đến đánh bắt cá tại vùng biển đảo Hoàng Sa càng nhiều hơn. Khi tàu hải quân Việt Nam tuần tra thì họ chạy ra hải phận quốc tế, khi tàu hải quân đi rồi thì họ lại buông neo thả lưới quanh đảo.
Anh em trên đảo chỉ có nhiệm vụ giữ đảo, còn đẩy đuổi ngư dân nước ngoài xâm phạm lãnh hải thì phương tiện không có.
Ba tháng rồi cũng trôi qua, chiếc tàu “Chí Linh 11” đón chúng tôi về lại đất liền, buổi chiều di chuyển ra tàu, con chim cuốc trong rừng bàng lại kêu từng hồi, như nhắn nhủ hãy nhớ về lại với Hoàng Sa.
Tàu nhổ neo, chạy một vòng quanh đảo để chào từ biệt. Đâu biết rằng lần chia tay đó Hoàng Sa chỉ còn trong tưởng nhớ không nguôi. Nhớ đêm chia tay, anh em rủ nhau đốt lửa, thức cùng Hoàng Sa. Tiếng hạ uy cầm của chú Võ Vĩnh Hiệp bên đài khí tượng hòa cùng tiếng hát bên ánh lửa bập bùng. Giữa muôn trùng sóng gió tiếng hát vẫn cất cao như miệt mài, như nhắc nhủ: “Một ngàn năm... một trăm năm...”.
Chiều nay đi giữa quê lại nghe tiếng chim cuốc kêu. Bỗng bồi hồi nhớ đến con chim cuốc ngày nào trên đảo Hoàng
Sa. Chắc bây giờ chiều chiều nó vẫn gióng lên tiếng kêu thương khắc khoải hướng về đất liền với bao nỗi chờ mong.
Riêng tôi, khi nào Hoàng Sa còn nằm trong tay kẻ cậy mạnh hiếp yếu, thì tiếng con chim cuốc trong ta sẽ còn mãi kêu lên dù cho nhỏ đến giọt máu cuối cùng, hầu nhắc thế hệ mai sau rằng: “Ta phải về Hoàng Sa”.
Tháng 10-1969 nhận được sự vụ lệnh của đơn vị, tôi ra làm đảo trưởng Hoàng Sa cùng 35 người lính và bốn nhân viên khí tượng, với nhiệm vụ giữ an ninh đảo và bảo vệ chủ quyền đảo Hoàng Sa. Đồng thời liên lạc báo cáo tin tức về an ninh, thời tiết khí tượng về đất liền.
Mổ heo cúng đảo xong, sáng hôm sau tôi đi quan sát một vòng trên đảo. Không khí rất ấm áp và dễ chịu với những bãi cát mịn trắng phau. Khi ra bờ biển nhìn xung quanh, tôi thấy những đảo nhỏ phía xa xa. Và ngay tại bờ biển tôi thấy có một nghĩa địa chôn những người đã mất khi làm nhiệm vụ trên đảo. Kế nghĩa địa là miếu Bà. Trong miếu thờ Phật Quan Âm.
Trung tâm đảo có một tòa nhà chính và kế bên là nhà khí tượng. Tòa nhà chính do Pháp xây cất lúc nào trên đảo chúng tôi không biết. Nhưng tòa nhà rất chắc chắn với tường dày đến 2m để chống chọi lại những cơn bão. Khi trở về, tôi đã ghi lại trên đường theo thứ tự của những đợt ra quân giữ gìn đảo từ đợt 1 đến đợt 36 và tôi là đợt 37 (tháng 10-1969).
Mặc dù tháng 10 nhưng thời tiết ngoài đảo rất ấm áp. Mỗi ngày chúng tôi đi quan sát xung quanh đảo và báo cáo tin tức an ninh cùng thời tiết khí tượng về đất liền.
Sau hơn ba tháng trên đảo, đã đến ngày chúng tôi và bốn nhân viên khí tượng trở về đất liền để đợt mới ra thay.
Chúng tôi náo nức trở về đất liền và mang theo những luyến tiếc, những kỷ niệm vui buồn cùng Hoàng Sa - một quần đảo thân yêu của đất nước mà nhiệm vụ của chúng ta bây giờ là phải tranh đấu mãi mãi.
NGUYỄN VĂN ĐỨC (nguyên đảo trưởng Hoàng Sa)
TRẦN HÒA

Thứ Sáu, 27 tháng 3, 2015

100 ngày Sống trên đảo Hoàng Sa (P I)

Hình ảnh Vẻ đẹp quần đảo Hoàng Sa số 3

100 ngày Sống trên đảo Hoàng Sa
Dư Mỹ
Cuối cùng thì tôi cũng không thể thoái thác về sự mong muốn của cậu vợ tôi – ông Trần Huỳnh Mính và anh bạn Đồ Xuân Trúc –người cùng học trường chùa Bà Mụ và ở cùng xóm với tôi sau
Chùa Phật Học Hội An từ những năm 1952-1953.Mong muốn của hai người là được tôi viết kể về những ngày sống trên đảo Hoàng Sa vào thời điểm tôi làm đảo trưởng để góp mặt với tờ đặc san xuân Quảng Nam-Đà Nẳng với chủ đề :Hoàng Sa-Phần đất quê hương .
   Tôi đã được đọc những bài viết về Hoàng Sa trên các báo .Hầu hết viết về tài liệu lịch sử chủ quyền đảo Hoàng Sa,về tài nguyên hải sản và khoáng sản của đảo Hoàng Sa ,về cuộc hải chiên đẩm máu anh dũng của hải quân Việt Nam Cộng Hòa với bọn cướp đảo Trung Cọng vào ngày 20/1/1974 nhưng chưa được đọc (hoặc chưa ai viết)về cuộc sống của những người lính chiến được giao nhiệm vụ trấn thủ đảo Hoàng Sa .
   Vào những năm1966 – 1967 ,lúc bấy giờ tình hình chiến sự ở chiến trường Quảng Nam chưa đến thời kỳ ác liệt cho nên việc tự nguyện đi Hoàng Sa là điều rất hiếm .Hầu hết những người trong chúng tôi là những người bị phạt đưa đi – tuy nhiên cũng có người bị chỉ định vì chuyên môn như hiệu thính viên ,y tá ,truyền tin và cũng có một số ít người tự nguyện .Riêng bản thân tôi ,sau khi cải vả dần đến xô xát với Đai đôi trưởng,tôi đã bị đưa về ty An Ninh QuânĐội của Tiểu khu để làm tự thuật và đã bị bút phê của Trung tá Tín –Tiểu Khu Trưởng T/K Quảng Nam
phạt đưa đi Hoàng Sa thay quân .
   Nhận công điện của P3/Tiểu Khu,tôi bắt đầu gom góp quân để thành lập trung đội Hoàng Sa ,quân số có 35 người bao gồm cả tôi là đảo trưởng .Trung đội Hoàng Sa qui tụ hầu hết những thành phần bị kỷ luật từ các đại đội tác chiến đưa về,mỗi đại đội từ 2 đến 3 người để tôi gom góp lại cho nên sau này anh em gọi đùa tôi là chúa đảo của trung đội trừng giới Hoàng Sa .
   Về tổ chức,trung đội được chia ra làm 3 tiểu đội trấn thủ 3 đảo chính gồm:
    -Đảo Hoàng Sa (Pattle) có 13 người gồm tôi là đảo trưởng,trung sĩ Huynh là hiệu thính viên đánh morce(liên lạc với Quân Đoàn bằng máy đánh tich tich te te )y tá Khôn và thêm 10 binh sĩ nữa .
    -Đảo Quang Hòa (Duncan)11 người do một Trung sĩ làm đảo trưởng .
    -Đảo Duy Mộng (Drummond) 11 người cũng do một Trung Sĩ làm đảo trưởng .
    Thời gian trấn thủ trên đảo HoàngSa  của chúng tôi là 3 tháng ,sau 3 tháng  sẽ có đợt khác thay quân
    Từ một trung đội trưởng tác chiến quen với những ngày cầm súng  hành quân lùng giặc ,nay trở thành một đảo trưởng không hề biết gì về đảo Hoàng Sa nên mọi việc đối với tôi thật ngỡ ngàng .Rất may mắn,tôi đã gặp được C/úy Hệ thuộc Đại đội Hành chánh Tiếp vận/TKQN-người phụ trách về tiếp liệu và hướng dẫn mua sắm những thực phẩm cần thiết để đủ ăn trong 3 tháng ở trên đảo mà không có tiếp tế .Tàu của hải quân chỉ chở chúng tôi đến đảo và sẽ trở lại chở chúng tôi về đất liền sau ba tháng trấn thủ(nếu điều kiện trời yên biển lặng không có bão) .Riêng  trung đội Hoàng Sa chúng tôi đã phải chịu trể thêm 10 ngày vì đợt thay quân cho chúng tôi bị cơn biển động  nên tàu của hải quân không ra đúng hẹn .Chính vì vậy cho nên tôi đã chọn tiêu đề cho những trang hồi ký này là :100 ngày sống trên đảo Hoàng Sa .(3tháng +10 ngày tàu trể )

Để có đủ thực phẩm tiêu dùng cho ba tháng sống trên đảo(ngoại trừ 3 tháng gạo cho mỗi người được nhận từ Đại đội HCTV)chúng tôi đã được nhận một tháng tiền lương để đi mua sắm đầy đủ những thực phẩm để được lâu ngày như thịt hộp,gia vị,mắm muối,dầu ăn v..v…Ngoài ra  chúng tôi còn mua thêm những thứ khác như thuốc lá ,lưỡi câu,sơn đỏ (dùng để đồ mộ bia trên đảo)lưới đánh cá và 35 con vịt sống cho mỗi người một con .
   Sau một hai ngày lang thang nấn ná tại Hội An để từ giã người yêu ,từ giã vợ con và bạn bè –ngày rời đất liền để ra hải đảo của chúng tôi cũng đã đến .Xe của TK/QN chuyên chở chúng tôi ra trú tạm tại trại tiếp liên Quân vận Đà Nẵng trên đường Độc Lập gần trường Sao Mai để chờ tàu .Chúng tôi ở đây một ngày và sau đó được chuyên chở tiếp ra quân cảng Tiên Sa để chuẩn bị lên tàu ra đảo Hoàng Sa .Tại đây tôi đã gặp được toán nhân viên khí tượng gồm  có năm người của sở khí tượng Đà Nằng . Họ cùng đi trên cùng con tàu với chúng tôi và cũng sẽ cùng trở về đất liền sau ba tháng làm việc tại đài khí tượng trên đảo Hoàng Sa
   Trong năm người nhân viên khí tượng,tôi lân la đến làm quen với bác Phong –một người Bắc di cư lớn tuổi –bác cho tôi biết là bác đã tình nguyện đi thế cho những người khác để làm việc trên đảo Hoàng Sa đã bốn đợt và đợt này là đợt thứ năm ,vì vậy sau này sống trên đảo bác đã cho tôi biết được nhiều chuyện về Hoàng Sa và một vài kinh nghiệm về câu các loại cá,cách bắt ốc gân,ốc nhảy ,ốc tai tượng v..v..
    Dù chỉ có năm người nhưng hành trang họ mang theo ra đảo thì lỉnh kỉnh đủ thứ .Khác với chúng tôi,ngoại trừ súng đạn cá nhân,trong chiếc ba-lô chỉ võn vẹn một hai bộ áo quần .Đặc biệt tôi thấy lạ hơn là một vài người lính trong chúng tôi mang theo những bao cát đựng đầy đất lấy từ quê nhà .Tôi hỏi họ và được trả lời là mang ra đảo để gối đầu ngủ vì ở ngoài đảo Hoàng Sa không có hơi đất dễ bị chứng phù thủng .
   Chiếc quân vận hạm mà tôi đọc được hai chữ Đống Đa màu trắng viết trên thân tàu đã cập vào bến cảng .Chúng tôi chuyển mọi thứ lên boong tàu và chia riêng rẽ ra ba phần cho ba đảo để khi đến Hoàng Sa dề bề di chuyển vào bờ .Cùng đi với chúng tôi đợt này còn có ba vị sĩ quan Công Binh thuộc Quân Đoàn I  -nghe đâu họ ra Hoàng Sa để khảo sát địa hình thiết lập sân bay cho loại phi cơ Ca-ri-bu –loại phi cơ chỉ cần phi đạo ngắn để cất và hạ cánh .
   Sau một hồi còi tàu dài để chào từ giả những người trên đất liền,con tàu từ từ rời cảng Tiên Sa và bắt đầu cuộc hải trình  hướng đến  Hoàng Sa .Tôi nhớ thời điểm đó là ba giờ  chiều vào một ngày cuối tháng sáu của năm 1967 .
   Hoàng hôn buông xuống .Con tàu vẫn nhẹ nhàng rẻ sóng ra khơi .Nước biển đã đổi màu đen sậm .Cảng Tiên Sa và thành phố Đà Nằng đã lùi lại đằng sau .Chúng tôi chỉ còn nhìn được những vệt sáng  của ánh điện để biết hướng đó là đất liền .Bây giờ ngồi trên boong tàu,bốn bề mênh mông là biển cả .Nhìn những khuôn mặt sạm nắng nhưng rạng rờ vui tươi của những người lính chiến lòng tôi cũng cảm thấy vui lây .Là những người quanh năm chỉ biết cầm súng lùng giặc,giờ đây không còn e ngại đến những mìn bẩy bãi chông hay sự sống chết thương tật ,đời lính chiến dễ ai có được một lần lênh đênh trên biển vừa ăn cơm chiều vừa ngắm sao trời và sóng nước như chúng tôi .
   Để khỏi bị nôn mửa,y tá Khôn đã cho tôi và Trung sĩ Huynh uống mỗi người một viên thuốc trừ say sóng,chính nhờ viên thuốc này mà tôi đã đủ sức vận chuyển thực phẩm cùng quân trang của những người lính đi cùng tôi vào bờ khi đến đảo vì hầu hết họ đều bị say sóng nằm la liêt.
Sau bừa cơm tối tự túc đầy thú vị của mỗi người,chúng tôi dần dần tìm vào giấc ngủ-giấc ngủ chập chờn cùng con tàu lênh đênh trên sóng nước mông mênh .
Nằm thao thức mãi không ngủ được,tôi ngồi dậy dựa mình vào boong tàu,đốt điếu thuốc và rít từng hơi dài nghĩ về buổi chia tay từ giã với Tuyết Mai –tên người yêu tôi-(bà xã tôi bây giờ) ngày hôm qua tại Đà Nẵng mà lòng dâng lên bao nỗi nhớ .Tôi lấy cuốn sổ tay mang theo ghi vội mấy câu thơ :
Tàu ra khơi anh mang theo nỗi nhớ
Gọi người tình giữa sóng nước mù
Em thành phố,anh miền xa hải đảo
Nhớ nhau xin soi mặt ánh trăng rằm .
Có phải chúng tôi cùng hẹn nhìn vào ánh trăng rằm mỗi tháng để cùng thấy nhau cho vơi đi bao nỗi nhớ nhung .
   Gió biển đêm lành lạnh .Một vài người lính cũng không ngủ được thức dậy dựa vào boong tàu hút thuốc,vài người thì nôn mữa vì không quen với những cái lắc chồng chềnh của con tàu .Sóng vẫn vỗ vào mạn tàu trên màn tối đen của mặt biển tôi chỉ nhìn thấy được những đốm sáng của chất lân tinh trên bọt sóng .Điếu thuốc cũng sắp tàn trên tay,tôi ghi vội thêm bốn câu thơ vào quyển sổ :
Khói quyện tơ sầu trên ngón tay
Chiến y năm tháng nặng vai gầy
Hành trang nửa mãnh trăng đầu súng
Đi mãi cho tròn nghĩa nước mây .
Sau này bốn câu thơ đó tôi đà viết bằng sơn đỏ lên bờ tường loang lỗ của tòa nhà trên đảo-nơi chúng tôi trú đóng .Khoảng cuối năm 1974,tình cờ trong một lần ngồi trò chuyện về Hoàng Sa,Trung úy Phạm Hy –đại đội trưởng của tiểu đoàn tôi –người đã bị Trung Cọng bắt làm tù binh trong trận đánh cướp đảo Hoàng Sa vào ngày 20 tháng 1 năm 1974 đã đọc lại cho tôi nghe bốn câu thơ đó Anh ta lúc bấy giờ cũng là đảo trưởng Hoàng Sa,anh nói anh em lính trên đảo rất thích bốn câu thơ đó mà không biết tác giả là ai .
Sau một đêm dài lênh đênh trên biển,trời bắt đầu hừng sáng báo hiệu cho chúng tôi một ngày mới .Réo gọi nhau thức dậy nhìn xem mặt trời mọc lên từ chân biển hướng đông .Như một chảo lửa đỏ từ từ nhô lên khỏi mặt biển,đẹp và cũng lạ lùng đối với chúng tôi .Mặt nước biển bây giờ đã đổi từ màu đen sậm sang màu xanh .Tôi nhìn đồng hồ bấy giờ đã là tám giờ sáng ,chúng tôi dùng điểm tâm. bằng những ổ bánh mì mua tại đất liền từ chiều hôm qua .Đứng trên boong tàu vừa ăn vừa nhìn những con cá chuồn vụt bay lên khỏi mặt biển khi con tàu chạy đến gần,xa xa là những con hải âu và nhạn biển đang chúi đầu bay  sà xuống để bắt mồi là những con cá con bơi gần mặt nước
Từ xa chúng tôi đã nhìn thấy phía trước mũi tàu hình ảnh lờ mờ của nhóm đảo Hoàng Sa .Lòng chúng tôi cũng rộn ràng mong tàu sớm cập bờ  .Và cuối cùng thì tàu cũng đã đến .Tôi nhìn đồng hồ kim chỉ đúng 11 giờ sáng ,như vậy chuyến hải hành của chúng tôi từ cảng Tiên Sa Đà Nẵng đến Hoàng Sa phải mất đến 20 giờ tàu chạy liên tục . Anh em lính trên tàu nhốn nháo chuẩn bị thu xếp mọi thứ để rời tàu .Con tàu chạy chậm lại  và vài người lính hải quân đang chuẩn bị thả neo .Tàu đậu ngoài mí sóng (từ của
anh em lính ở Hoàng Sa)nơi vùng nước sâu .Từ đây vào đến bờ để lên đảo khoảng cách xa hơn 100 mét,hải quân  phải hạ thuyền nhỏ có gắn động cơ để chuyển hành lý,thực phẩm và đưa chúng tôi lên bờ .Từ trên boong tàu nhìn vào đảo tôi đã thấy lố nhố những anh em lính đảo đợt trước chạy tới chạy lui trông có vẻ nôn nóng muốn sớm trở lại đất liền .
Toán chúng tôi có 13 người nhưng  đã mất hết tám người bị say sóng không còn làm gì được .Tôi,trung sĩ Huynh,y tá Khôn và thêm hai người lính nừa cố gắng vận chuyển mọi thứ xuống thuyền máy để di chuyển vào bờ .Chỗ chúng tôi chất quân trang và thực phẩm lên bờ  là một cầu tàu nhỏ xây bằng xi-măng chạy dài ra biển độ khoảng 50 mét .Trên cầu tàu có hai đường rây bằng sắt dùng để đẩy xe gòong (là một loại xe nhỏ bằng sắt có bốn bánh nhỏ giống như bánh xe lửa chạy trên đường rây dùng để chở phân  phốt-phát) Nhờ có chiếc xe này nên chúng tôi chuyển quân  trang và thực phẩm một cách dễ dàng từ cầu tàu vào đến tòa nhà chúng tôi trú đóng .   
Ba vị sĩ quan Công Binh cũng theo chúng tôi lên đảo .Tôi thì bận rộn đi nhận bàn giao còn ba vị sĩ quan công binh thì đi vòng quanh đảo để khảo sát địa hình .Chuẩn úy Bửu – tên người đảo trưởng tiền nhiệm –vội vã bàn giao cho tôi một vài thứ trên đảo để kịp thời gian ra thuyền  máy lên tàu .Tôi ký nhận một khẩu đại liên 50 đặt trên sân thượng tòa nhà,một máy phát điện đã bị gỉ sét vì hơi nước mặn không còn xử dụng được,ba tháng gạo dự trử cho mỗi người đã mục nát không ăn được,một sơ đồ phòng thủ trên đảo và một máy hiệu thính để hàng  ngày liên lạc với quân đoàn I . Nhiệm vụ chính của chúng tôi là trấn thủ trên đảo  để bảo vệ và xác định chủ quyền  của đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa đồng thời bảo vệ an ninh cho đài khí tượng .
Ký nhận bàn giao xong,tôi chưa kịp hỏi thêm được gì thì C/úy Bửu đã vội vàng lên thuyền máy ra tàu lớn .Con tàu nhổ neo và tiếp tục chạy đến thay quân cho  hai đảo  Duncan và Drummond .Khoảng ba giờ chiều cùng ngày tàu trở lại đảo Hoàng Sa thả neo đón ba vị sĩ quan công binh .Một hồi còi tàu dài vang lên cùng với những cái vẫy tay giả từ của anh em lính hải quân,con tàu từ từ rời đảo và hướng về phía đất liền .
Và .Chúng tôi thật sự bắt đầu  một cuộc sống mới – cuộc sống yên bình không có không khí chiến tranh,bốn bề xung quanh là trời nước xa  tít đến tận chân mây ,một nơi hoàn toàn xa rời cuộc chiến,đêm không còn nghe tiếng bom gầm đạn hú và thật sự  một  nơi vắng bóng đàn bà .
Sau khi ổn định được vài việc và phân chia công tác dọn dẹp ,nấu nướng cho anh em lính,tôi  cùng trung sĩ Huynh đi loanh quanh quan sát một vài nơi trên đảo .
Nơi trú ngụ của chúng tôi là một tòa nhà lớn xây rất kiên cố,có lẽ xây dựng từ lâu(có thể xây từ thời Pháp thuộc)nên trông rất cũ kỷ .Nhà xây cao,gồm một nhà lớn ở giữa và hai nhà ngang ở hai đầu dính vào nhau .Nơi hai nhà ngang có hai thang bằng sắt thẳng đứng để leo lên sân tầng thượng,tại đây có một tháp hải đăng nhỏ(không xử dụng)và chúng tôi đã đặt một khẩu đại liên 50 có thể xoay quanh bốn phía biển .Đứng trên tầng sân thượng chúng tôi có thể nhìn thấy lờ mờ ba cây dừa từ đảo Duncan khi thủy triều xuống .Chúng tôi cũng xử dụng sân thượng để phơi khô cá và ốc gân bắt được hàng ngày .Để báo hiệu cho máy bay biết đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền của Việt Nam Cộng Hòa ,trên mặt bằng sân thượng có vẽ bằng sơn một lá quốc kỳ màu vàng ba sọc đỏ rất lớn .Nền nhà được lát bằng gạch hoa rất đẹp,tất cả các cửa sổ và cửa lớn đều không có,vì thế chúng tôi rất khốn khổ chịu cảnh ướt át và lạnh mỗi khi trên đảo bị gió bão .Dưới nền móng nhà là một tầng hầm lớn có đường ống dẫn từ  sân thượng xuống để chứa nước mưa xử dụng cho sinh hoạt hàng ngày .Những bức tường trong nhà thì loang lỗ viết đầy những tên tuổi ngày tháng  để lưu niệm của những người từng có mặt trên đảo .Tôi đọc được có người đã đến đây từ năm 1955,và chính trên bức tường này tôi đã viết bốn câu thơ như đã nói ở phần trước .
   Nhìn về phía bên trái của tòa nhà chúng tôi ở cách khoảng ba mươi mét là tòa nhà đài khí tượng Hoàng Sa .Nhà đẹp,khang trang ,đầy đủ cửa kính hai lớp .Phòng làm việc ,phòng truyền tin,phòng ngủ đều riêng biệt thứ tự .Dưới nền sàn nhà cũng là một hầm lớn chứa nước mưa dùng để nấu nướng ăn uống .Chúng tôi thường sang lấy nước tại đây về dùng vì nước sạch còn hầm chứa nước của tòa nhà chúng tôi ở thì đầy xác chuột chết và gián nổi lềnh bềnh .Chúng tôi không thể vớt bỏ chúng được vì chỉ có một ô vuông trống nhỏ trên sàn nhà đủ để thả gàu  xuống múc nước ..
Toán khí tượng gồm có năm người .Một người lo phụ trách công việc nấu ăn và giật nổ máy chạy điện còn bốn người kia là chuyên viên .Công việc của họ là cứ khoảng hai đến ba giờ là cho máy điện nổ bơm một bong bóng lớn màu đỏ xong thả bay lên không trung rồi dùng kính chuyên môn để đo tốc độ gió và biết hướng gió di chuyển .Họ cũng xử dụng một kính viễn vọng lớn để quan sát quanh đảo,tìm biết vùng nào có bảo  đang tập trung và di chuyển về hướng nào .Cứ khoảng hai đến ba giờ họ lại lặp lại công việc đó và báo cáo về đất liền ,vì vậy thời gian lội biển và đi câu cá của họ rất hiếm,khác với chúng tôi cả ngày cứ lang thang quanh đảo .
   Sống gần đài khí tượng chúng tôi cũng nhờ được họ báo cho biết mỗi khi có mưa sắp di chuyển về hướng đảo Hoàng Sa là chúng tôi mang ốc và cá đang phơi nắng vào .Đứng trên  tầng thượng tòa nhà chúng tôi ở,với mắt thường chúng tôi cũng có thể biết được hướng  nào có bảo đang tập trung .Vùng có bảo tập trung thì từ mặt biển lên không trung trông cả một vùng đen xám và u ám trong lúc xung quanh vùng đó trời vẫn nắng và trong sáng .
   Phía trước tòa nhà chúng tôi ở có một cái giếng còn tốt đầy nước nhìn rất trong nhưng lại không thể dùng để nấu nướng được mà chỉ dùng để tắm giặt .Nước hơi lờ lợ mặn,chúng tôi múc nấu thử thì nước sủi bọt và chuyển sang màu đục ngầu như nước vo gạo .Cạnh giếng là một cây dừa,vài cây ớt,vài đám rau sam và nhiều nhất là những bụi sả .Có lẽ nhờ có phân phốt-phát trên đảo nên những bụi sả phát triển và lan ra cả một vùng rộng đến vài mét .Nhờ có những bụi sả này mà chúng tôi có được một gia vị thơm để ướp vào thịt vít xào nấu ngon hơn .Từ cái giếng này chạy ra đến cầu tàu có hai đường rây để đẩy xe gòong chở phân và vận chuyển những vật liệu cần thiết .
   Bên kia đường rây là một nhà nguyện cho những người theo đạo Công Giáo .Nhà nguyện nhỏ ,tường xây bằng gạch và lợp tôn .Tôi bước vào trong chỉ thấy còn lại một cây thánh giá bằng gỗ treo trên tường trông có vẻ hoang tàn không có người lui tới .Tôi đã cho hai người lính có đạo Công Giáo dọn quét sạch sẽ .Thời gian sau hai người lính này cùng bác Phong bên khí tượng thường vào đây cầu nguyện cho sự bình an của họ trên đảo .Cách nhà nguyện không xa là ba bốn nhà làm bằng tôn khá lớn,đây là cơ sở chế biến phân phốt-phát để chở về đất liền .Tôi nghe bác Phong nói lại cơ sở này là của bà Nhu,sau cuộc đảo chánh lật đổ Tổng thống Diệm năm 1963 thì cơ sở này ngưng hoạt động,toán công nhân chế biên phân phốt-phát ở đây suýt đói vì bị bỏ quên .sau nhiều lần nhờ truyền tin bên đài khí tượng cầu cứu,tàu hải quân đã ra chở họ về đất liền .Quan sát bên trong những căn nhà này tôi thấy còn bỏ lại một cổ máy xay nghiền phân phốt-phát đã gỉ sét,vài ba bao phân lở dỡ .
   Sau khi đi loanh quanh quan sát khu vực gần tòa nhà chúng tôi ở, tôi rũ trung sĩ Huynh cùng tôi đi dạo một vòng quanh đảo .Để ra được bãi cát chạy quanh đảo,chúng tôi có được ba con đường mòn đi xuyên qua rừng cây ráy biển (là một loại cây cao độ  hai đến ba mét,thân mềm và xốp,lá nhỏ mọc chi chít trên cát,nhờ  những cành khô của loại cây này mà chúng tôi có đủ chất đốt để nấu nướng trong suốt thời gian sinh sống  trên đảo) và cây nhàu(loại cây này nghe nói rễ và vỏ cây  có thể dùng  nấu  nước làm trà chửa bệnh gì đó) ngoại trừ con đường chính từ cầu tàu  theo đường rây dẫn vào đến giếng nước .Xung quanh đảo có được  ba pháo đài phòng thủ,nhỏ,xây bằng xi-măng có lỗ châu mai hướng ra  phía biển .Đi vòng quanh hơn nửa đảo vễ phía bên trái,chúng tôi thấy một ngôi miếu xưa xây bằng gạch và vôi, mái  lợp ngói âm dương tọa lạc trên bãi cát cao xung quanh bao phủ bởi những cây nhàu và cây ráy biển .
   Theo lời bác Phong bên đài khí tượng thì ngôi miếu này  được xây dựng từ thời vua Gia Long khi chính vua đã thân hành ngự giá đến đảo Hoàng Sa  khoảng vào năm 1816 .Ngôi miếu được gọi là Miếu Bà vì bên trong nơi bàn thờ chính thờ Thiên Hậu Thánh Mẫu (một vị nữ thần ban sự bình an và cứu những người  đi biển gặp nạn )hai bên bàn thờ là hai câu liễn đỏ viết bằng chữ Hán .Ngôi miếu  được anh em lính những đợt trước quét dọn sạch sẽ và  cúng bái đầy đủ vào những ngày  rằm và mồng một mỗi tháng .Phía sau ngôi miếu là một nghĩa địa nhỏ có khoảng hơn mười ngôi mộ,có hai ngôi mộ có bia bằng chữ Hán,số còn lại là mộ đắp bằng cát không có bia .Nghe bác Phong nói lại những ngôi mộ này  là mộ của những người đi đánh cá bị bão đánh chìm và trôi dạt vào đảo,được những người trên đảo chôn cất .Tuy bác Phong là người theo đạo Công Giáo nhưng bác nói với tôi ngôi Miếu Bà này rất linh thiêng,đêm tối đi dạo biển một mình bác không dám đi ngang  qua đây .Những người lính  đợt trước chúng tôi cũng nói vậy,họ kể lại một cách vội vã trước khi ra tàu trở về đất liền là từ cầu tàu họ đã nhìn thấy một khối lửa đỏ như quả cầu  bay xẹt trên mặt biển  từ đảo Cam Tuyền qua đến Miếu Bà rồi tắt lịm,họ còn dặn dò chúng tôi nếu thấy thì không được quở (tiếng địa phương Quảng Nam có nghĩa là không được kêu,không được hỏi ,không được chỉ chỏ khi nhìn thấy một sự cố gì đó có vẻ ma quái,linh thiêng,nếu không sẽ bị điên hoăc bị bệnh )Chính vì vậy cho nên nhiều người trong chúng tôi thường đến đây thắp nhang cúng vái trong những ngày rằm và mồng một mỗi tháng để cầu xin được bình an và sức khỏe trong suốt thời gian sống trên đảo .
   Bãi biển trước Miếu Bà phần lớn là cát,rất ít san hô và bông đá biển (là tảng đá có hình dáng tròn,dẹp,có dộ dày từ hai đến ba tất ,màu vàng nhạt,trên và xung quanh tảng đá có nhiều con hàu biển bám vào, .dưới tảng đá có nhiều hang nhỏ để cho những con cá mú bông sinh sống,chúng tôi có thể dùng gậy nạy  lên khỏi mặt cát ) .Nước sâu và trong vắt nhìn tận đáy .Chính tại bãi biển này ,chúng tôi đã bắt được nhiều ốc nhảy để lấy ruột phơi khô đem về đất liền .
   Đối diện với Miếu Bà qua một khoảng cách biển nước sâu,xa từ ba đến bốn km về phía tây nam là đảo Cam Tuyền (Robert)Chính con tàu đưa chúng tôi ra đảo đã chạy kẹp vào giữa hai đảo Hoàng Sa và Cam Tuyền, đây là một đảo nhỏ có diện tích khoảng 1,5 km vuông  có nhiều phốt-phát,không có quân trú đóng .Từ đảo Hoàng Sa nhìn sang chúng tôi thấy được những tảng đá lớn nhỏ chen với bờ cát bao quanh đảo .Có thể gọi đây là quê hương của những đàn hải âu và nhạn biển .Hầu hết chúng qui tụ về đảo này vào những buổi chiều tối hoặc những lúc biển bị bão tố
Tiếp tục đi theo bãi biển từ Miếu Bà đến một khoảng cách xa nữa thì chúng tôi gặp được cầu tàu-nơi đầu tiên chúng tôi đặt chân lên đảo .Từ cầu tàu ra đến mí sóng –nơi tàu lớn đậu-có một đường nước sâu khoảng hai đến ba mét không có san hô,nước trong có thể nhìn thấy được những con cá nhỏ bơi dưới đáy .Chính tại đây tôi đã câu được hai con cá mập lớn và cũng là nơi anh  em lính chúng tôi thường tụ tập lại để câu cá ban đêm .
   Đứng trên cầu tàu nhìn chếch về hướng tây bắc,chúng tôi thấy được xác một chiếc tàu lớn bị chìm ,đứng trơ vơ giữa bãi san hô gần mí sóng cách chỗ chúng tôi đứng chừng 200 mét .Bác Phong cho tôi biết chiếc tàu này là tàu chở phân phốt phát về đất liền bị bỏ lại sau năm 1963 .Trên boong tàu gỉ sét là nơi tụ hội của các loài chim biển như bồ nông,nhạn biển ,hải âu .
Tôi đã tốn hết 30 phút để đi giáp một vòng quanh đảo quan sát toàn cảnh khu vực đảo từ bờ cát ra đến mí sóng .Tôi ước đoán đảo Hoàng Sa có diện tích chừng 3,5 đến 4 km vuông .Phần đảo nhô lên khỏi mặt nước biển chừng 1,5 km vuông gồm có những tảng đá lớn nhỏ,bờ cát vàng bao quanh cùng với những cây nhàu  và cây ráy biển mọc chi chít .Phần này cao hơn mặt nước biển độ 5 mét có bãi cát chạy lài xuống đến bờ nước .Từ bờ nước ra đến mí sóng là những rặng san hô đủ màu sắc và bông đá biển bao quanh đảo ngoại trừ bãi trước Miếu Bà thì rất ít san hô .Những bãi san hô này mọc lan xa ra tận mí sóng đến cả trăm mét có bãi xa đến hơn hai trăm mét .Hầu hết san hô và bông đá biển đều  nằm chìm dưới mặt nước .
   Với mắt thường không cần dùng đến kính lặn biển ,chúng tôi cũng có thể thấy rỏ được  những màu xanh tím  đỏ vàng cam trắng của những nhánh san hô .Xen kẽ vào những nhánh san hô,những con cá nhỏ đủ màu sắc bơi lội và rỉa mồi là những sinh vật li ti bám trên san hô và bông đá biển .(San hô là loài động vật xoang  trùng sống thành từng bãi ở bờ biển,cơ thể có bộ xương bằng chất khoáng  kết thành khối theo hình gạc hưu)Tôi bẻ thử một nhánh san hô màu xanh đem lên khỏi mặt nước biển để phơi nắng độ 15 phút,san hô từ từ khô dần và chuyển sang màu trắng như vôi .Vì vậy chất phốt-phát trên đảo là do sự tác dụng của phân chim lên chất vôi của san hô tạo nên .Giữa những rặng san hô tôi cũng thấy được những khoảng cát rộng hơn một sân bóng rổ,chính tại những vũng cát trũng này anh em lính chúng tôi đã rượt bắt những con cá chúc đầu khi thủy triều rút xuống .
   Về hai đảo Quang Hòa (Duncan)và Duy Mộng (Drummond)thì tôi không được nhìn thấy vì tàu hải quân thay quân cho đảo Hoàng Sa (Pattle)trước tiên,sau đó mới đến đảo Duncan và cuối cùng là Drummond .Sau hơn ba tháng trú đóng trên đảo Hoàng Sa,ngày trở lại đất liền,đứng trên boong tàu tôi mới nhìn thấy được hai đảo này và theo lời kể lại của anh em lính đóng trên hai đảo cùng với sự quan sát được của tôi thì: đảo Duncan gồm có một đảo lớn nối liền với một đảo nhỏ bằng một giải cát chạy dài,nhô lên khỏi mặt nước biển độ bốn mét có nhiều tảng đá lớn nhỏ  và bãi cát vàng bao quanh .Trên đảo có ngôi nhà bằng tôn cho anh em lính ở ,ba cây dừa cùng những bụi cây ráy biển .Đảo Drummond thì cũng vậy nhưng lại có được một con lạch nhỏ sâu chạy gần sát bờ .
   Vào thời điểm tôi ra thay quân cho đảo Hoàng Sa năm 1967, tôi không hề nghe ai nói (kể cả bác Phong bên đài khí tượng )về tên đảo Phú Lâm .Trên biên bản ký nhận bàn giao chỉ  có những tên đảo Hoàng Sa (do tôi làm đảo trưởng )và hai đảo Duncan và Drummond do hai trung sĩ làm đảo trưởng .Năm 1974,Tr/úy Phạm Hy (Đại đội trưởng của tiểu đoàn tôi) kể lại với tôi là Trung Cọng đã cho quân đổ bộ lên đảo Cam Tuyền (Robert) trước rồi sau đó mới chiếm tiếp đảo Hoàng Sa và bắt toàn bộ anh em trên đảo làm tù binh chở về đảo Hải Nam 
   Với sự kiện tranh giành xác định chủ quyền của đảo Hoàng Sa hiện thời giữa CS Việt Nam và Trung Cọng thì tôi nghĩ tên gọi đảo Phú Lâm (tên gọi hiện tại)  có phải  là tên của đảo Hoàng Sa do tôi trấn đóng năm 1967 ?

Hình dung trở lại những ngày tháng cũ sống trên đảo Hoàng Sa từ năm 1967 đến nay đã 46 năm trôi qua – 46 năm dài đăng đẳng .Hoàng Sa tuy đã mất vào tay quân cướp đảo Trung Cọng nhưng hình ảnh   Hoàng Sa vẫn còn sống mãi  trong tâm tưởng của tôi .Những kỷ niệm về Hoàng Sa,từ những sinh hoạt hàng ngày,từ những khuôn mặt sạm nắng của những người lính giữ đảo đến những chuyện vui buồn trên đảo vẫn còn in rỏ nét trong ký ức của tôi .Bây giờ tuy đã ngoại tuổi thất thập,đã là người lính già sống đời lưu xứ,nhớ trước quên sau nhưng có một dịp nào đó để tâm hồn lảng đảng trôi đến Hoàng Sa thì mọi việc trên đảo trong ký ức của tôi dễ dàng sống  lại.
Sinh hoạt hàng ngày trên đảo.

Bắt vít và tìm trứng vít.

Con vít
   Vít là tên gọi từ những người đánh cá biển và anh em lính đảo chúng tôi chỉ danh những con rùa biển,hình dáng giống như con đồi mồi,rất lớn,có con có mu dài đến 1,3 mét và ngang hơn 1 mét có bốn chân giống như chân đồi mồi dùng để bơi .Khi bò lên bờ để đẻ thì quạt bốn chân để trườn mình tới nhưng ở dưới nước thì bơi rất nhanh .Tuy là con vật sống dưới nước nhưng lại bò lên bờ cát đào ổ cạnh những bụi cây ráy biển để đẻ .Trứng vít có hinh tròn và nhỏ như quả bóng bàn,vỏ trứng mỏng nhưng dai ,màu trắng Khi luộc trứng vít,lòng đỏ trứng đông cứng  lại như lòng đỏ trứng gà nhưng lòng trắng thì vẫn lỏng .Một con vít đẻ gần cả trăm trứng,có con đẻ nhiều hơn.
Bữa thịt vít đầu tiên trên đảo.
  Sau hơn 20 tiếng đồng hồ lênh đênh trên mặt biển,đêm đầu tiên chúng tôi tìm vào giấc ngủ ngon lành .Thật sự một giấc ngủ bình yên đối với những người lính chiến như chúng tôi . Xa rời cuộc chiến .Sao trời trên đảo thay cho những đóm hỏa châu,tiếng gió biển cùng với tiếng sóng vỗ rì rầm đã thay cho tiếng rít dài của làn đạn pháo .Sống trên đảo không có hơi đất,ngủ nhiều và ít hoạt động dễ sinh ra bệnh phù thủng .cho nên từ chiều tôi đã động viên anh  em lính mỗi sáng hàng ngày phải thức dậy sớm chạy vòng quanh đảo.
   Mặt trời mới bắt đầu hừng sáng nơi chân mây, chưa kịp thức dậy thì chúng tôi đã nghe tiếng réo gọi của Chi –tên một người lính –kêu anh em chúng tôi đi lật bắt vít .Té ra cậu này thức dậy từ sớm đi một mình ra bãi biển và trông thấy một con vít đang đẻ chưa bò xuống nước .Toàn thể chúng tôi thức dậy chạy xuống bãi cát nơi có con vít,ba người lính cùng nhau lật ngữa một con vít lớn .Con vít bị lật ngữa,phần nhô lên của mu vít nằm trũng xuống cát và bốn chân ngọ ngoạy giữa khoảng không .Đầu con vít giống như đầu con rùa và lớn như một bàn tay tôi chụm lại. Tôi thấy hai mắt của nó chảy dài nước mắt, những giọt nước mắt nhỏ xuống ướt cả một vùng cát nhỏ.
   Lần đầu tiên nhìn thấy được một con vít,chúng tôi không biết bằng cách nào để xẻ thịt .Trung sĩ Huynh đề nghị bắn vào đầu vít trước cho chết rồi mới lấy thịt .Hai phát súng cac-bin đoành đoành,đầu con vít nát bấy .Theo chỉ dẫn của trung sĩ Huynh ,tôi dùng lưỡi lê rọc theo đường mềm của cái yếm con vít dưới bụng .Cái yếm vít được nâng lên,cả cái mu vít lật ngữa giống như một cái chảo lớn đựng đầy huyết và ruột gan phèo phổi. Chúng tôi nghiêng  mu vít cho huyết vít chảy ra ngoài xong dùng dao lạng từng miếng thịt vít và đem bộ lòng vít ra ngoài .Con vít lớn nên thịt vít rất nhiều,tôi đề nghị bỏ vào thùng thiếc muối để dành ăn trong những ngày biển động không bắt được cá .(kết quả năm ngày sau đó phải mang ra cầu tàu đổ vì hôi thối)
   Chúng tôi mang thịt vít về xắt ướp với gia vị từ đất liền mang theo cùng với sả trồng trên đảo.
nấu hai món xào và cari .(thịt vít có màu đỏ,mềm,giống thịt bò,nhưng có người nói ăn nhiều sẽ bị nổi phong) .Trong bộ lòng vít,phần ngon nhất là bao tử vít (giống như bao tử bò )màu trắng,mặt bên trong bao tử có những lớp gai lớn ngắn và không có mùi hôi vì vít ăn toàn rong biển ,luộc chín ,chấm với mắm ăn giòn như bao tử bò .Thế là ngày hôm đó và hai ba ngày kế tiếp chúng tôi chỉ ăn toàn thịt vịt đến phát ớn.
Tìm đào trứng vít.
  Vít thường bò lên bờ cát đào lỗ để đẻ trứng .Thời điểm chúng bò lên bờ là sau 10 giờ tối và bò trở lại xuống nước khi trời hừng sáng .Sau khi tìm được vị trí thích hợp làm ổ,vít dùng hai chân sau moi một cái lỗ sâu chừng bốn tất và rộng chừng ba tất,kê đít vào để rặn đẻ .Khi đã đẻ hết trứng chúng dùng hai chân sau lấp cát lại và xoay mình cà cái yếm dưới bụng tại lỗ vừa mới đẻ ngang với mặt cát,tiếp tục bò đi và lặp lại như vậy vài chỗ để ngụy trang,vì thế nếu không rình  được chỗ vít đẻ rất khó tìm thấy trứng.
   Xung quanh bãi cát đảo Hoàng Sa,chúng tôi thường thấy  mỗi đêm có chừng năm sáu con vít bò lên bờ để đẻ .Để tìm được trứng vít,chúng tôi dùng cây thông nòng súng garant M1 thọc sâu xuống  cát những chỗ vít xoay mình ngụy trang xong rút cây thông nòng lên,nếu đầu cây thông nòng có dính chất ướt nhầy của trứng thì đích thực là ổ vit đẻ và từ từ moi cát đem trứng vít lên
Thường một ổ vít đẻ chúng tôi đếm được trên 80 trứng Trứng vit đào được không thể ăn hết một lần,chúng tôi đào một lỗ cát bỏ trứng xuống và lấp cát lại,khi cần ăn lại moi cát lấy trứng lên. Hầu như mỗi người trong chúng tôi đều có một lỗ chôn trứng vít để ăn từ từ.
Rình xem vít đẻ.
Để biết được vít đẻ trứng như thế nào,tôi rũ Trung sĩ Huynh,y tá Khôn và tôi mang đèn pin  đi rình xem vít đẻ .Đúng 11 giờ tối (thời điểm vít thường  bò lên bờ )chúng tôi đi vòng quanh đảo,giữ im lặng và không mở đèn sáng .Trời sáng lờ mờ nhờ đêm có nhiều sao .Chúng tôi thấy một con vít lớn từ dưới nước đang bò trườn lên bờ một cách nặng nề .Chúng tôi dừng lại,nấp vào một bụi cây ráy biển để quan sát ,rất im lặng (nếu vít phát hiện có tiếng động hoặc có người thì sẽ bò trở lại xuống nước )con vít bò tới bò lui tìm  một vài chỗ và cuối cùng thì cùng tìm được một vị trí thích hợp là một chỗ cát cao cạnh bụi cây ráy biển để đào lỗ đẻ trứng.
Ba người chúng tôi yên lặng quan sát .Con vít nằm im,dùng hai chân sau đào  một cái lỗ cát sâu và rộng chừng ba tất .Hai chân sau của  con vít hất tung cát ra xa,chúng tôi cũng nghe được tiếng cát bay rào rào khi chạm vào những lá cây ráy biển .Đào được một hồi lâu,con vít đặt đít ngay trên miệng lỗ cát vừa mới đào,hai chân sau khép lại hai bên miệng lỗ cát,hai chân trước khép lại hai bên đầu và bắt đầu rặn đẻ .Ba người chúng tôi rón rén bò lại phía sau nằm dài trên cát và pin đèn ngay xuống  miệng ổ vít để xem .Con vít rặn và thở rất lớn ,nó có vẻ như rất mệt .Mỗi lần vít rặn đẻ,chúng tôi thấy rơi ra  từ hai đến ba trứng và có rất nhiều nước nhờn .Tôi se sẽ đặt một bao cát dưới đít con vít và mỗi lần nó rặn  trứng vít đều rớt vào bao cát .Trứng trong bao đã nhiều,con vít ngưng không rặn nữa,tôi xách bao cát trứng lên và không quên nhặt lấy những quả trứng  còn lại trong lỗ .Con vít bắt đầu  dùng hai chân sau lấp cát lại .Lỗ cát đã đầy và nó xoay mình dùng bụng để khỏa bằng ổ trứng vừa mới đẻ .Vít tiếp tục bò trên cát cách  ổ của nó  chừng  hai đến  ba mét ,lại xoay mình cà bụng trên cát và cứ như vậy đến ba bốn lần lặp lại như để ngụy trang cho ổ trứng.
   Xong công việc ngụy trang ,con vít trườn mình bò trở lại xuống nước một cách mệt mõi .Tôi không hiểu bao lâu thì trứng vít sẽ nở ra vít con và vít mẹ có nhận ra được đàn con của nó hay không. Thời gian sau,tình cờ một lần dạo quanh đảo tôi đã chứng kiến được một đàn vít con nhỏ hơn quả trứng gà đang ngoai lên từ mặt cát và từ từ bò  trườn xuống nước. Nhừng con vít con trông thật dễ thương. Thỉnh thoảng trong những lần dạo biển tôi cũng nhìn thấy những xác vít con chết bị sóng đánh tấp vào bờ.
Ăn bao tử vít.
   Có một việc làm mà bây giờ hồi tưởng lại tôi vẫn cảm thấy ân hận ,một việc mà đáng lý ra tôi phải ngăn cản và không nên tham dự vào,một việc rất ư tàn nhẩn đối với một sinh vật biển .Đó là  lật bắt vít mổ bụng lấy bao tử luộc ăn.
   Tán thành với đề nghị của mọi người ,chúng tôi lật ngữa một con vít,dùng lưỡi lê rọc theo một nửa bụng vít xong nâng yếm vít lên .Thò tay sâu vào trong bụng con vít ,móc bộ lòng vít ra ngoài và chỉ cắt lấy phần bao tử vít .Tôi thấy bốn chân nó ngọ ngoạy liên tục,nước mắt chảy dài xuống cát .Sau khi cắt lấy bao tử,chúng tôi lật úp con vít trở lại .Nó cố gắng trườn mình bò xuống nước .Máu vít đỏ loang đầy trên cát .Đến được nước,nó quạt mạnh bốn chân và bơi thật nhanh ra chỗ nước sâu .Con vít thật ra rất mạnh .Đôi lúc nghịch ngợm,hai người lính leo lên đứng trên mu vít ,nó vẫn trườn mình bò đi được.
   Ngày hôm sau,cách chỗ chúng tôi mổ bụng vít  khoảng 50 mét,tôi thấy cả một đàn cá mập lớn nhỏ có đến 10 con quần tụ giành mồi .Thì ra con vít đã chết nổi lềnh bềnh và lũ cá mập có được một bữa thịt vít ngon lành .Có phải vì tôi đã quen nhìn nhừng cái chết bi thương ,những đau đớn tột cùng khi đạp phải mìn của anh em lính chúng tôi trong những cuộc hành quân mà tôi lại dửng dưng trước sự quằn quại đau đớn của một con vật !
   Trong suốt thờì gian trấn đóng trên đảo ,chúng tôi chỉ bắt ăn thịt tổng cọng 3 con vít kể cả con vít chỉ ăn độc nhất cái bao tử .Những người bên đài khí tượng họ không ăn thịt vít nên đã từ chối khi chúng tôi mang thịt vít cho họ .Lấy thịt một con vít thì quá nhiều,chúng tôi ít người nên cũng biếng nhác không muốn làm thịt vít dù hàng đêm vít bò lên đảo rất nhiều .
Câu cá và bắt cá.
Nói đến Hoàng Sa,ngoài những tài nguyên phong phú về khoáng sản,khí đốt và dầu lửa chúng ta phải kể đến trử lượng cá .Biển quanh đảo Hoàng Sa là nơi qui tụ hầu hết các loại cá ngon có giá trị cao trong ngành đánh bắt thủy sản .Cũng chính vì vậy , nên dù quân cướp đảo Trung Cọng đã chiếm đảo Hoàng Sa từ năm 1974,kiểm soát các đảo và những vùng biển xung quanh,ngư dân Việt Nam chúng ta từ các tỉnh lân cận cùng với ngư dân Quảng Nam Đà Nẵng vẫn kiên cường bám biển đánh bắt thủy sản .Một phần vì cuộc sống ,một phần để xác định chủ quyền của vùng biển quê hương .
   Cá ở Hoàng Sa thì nhiều vô kể,nhưng những loại cá đánh bắt được nhiều thì hầu hết nằm ở ngoài khơi .Riêng quanh đảo chúng tôi trấn đóng ,kể từ mí sóng trở vào bờ cát,xen kẽ với những bãi san hô chúng tôi thấy có rất nhiều loại cá .Nhiều nhất là cá mó xanh(loại cá này lớn bằng hai ngón tay có màu xanh lá cây)và cá rô biển có màu đen .Hai loại cá này thì rất nhiều ,chúng lội quanh những nhánh san hô và bông đá biển để rỉa mồi ,chúng tôi lội xuống nước chúng thường bu lại rỉa cắn xung quanh chân .Ngoài hai loại cá này ra là những con cá đủ màu(cá cảnh) bơi lội chen vào giữa những nhánh san hô đầy màu sắc trông rất đẹp mắt .Những con cá mú bông lớn bằng cổ tay,miệng rộng với những đốm vàng ,đen trên lưng cũng không ít ,chúng thường ẩn nấp trong những hang nhỏ dưới tảng bông đá .Thỉnh thoảng chúng tôi cũng thấy được nhiều đàn cá lạ di chuyển vào gần đảo,cá đối,cá cơm, mực và đôi khi là những con cá mập lội sát bờ bắt mồi .Khi thủy triều xuống ,chúng tôi lội trên những bãi san hô nước  khoảng trên đầu gối thấy được những con hải sâm ( đĩa biển )và rất nhiều nhím biển ( sinh vật biển có hình tròn,dẹp,có rất nhiều gai nhọn dài gần 1 tất mọc tua tủa quanh mình,có màu nâu hoặc đen )Lội biển đụng phải chúng  thì chân bị ngứa ngáy khó chịu .
Bủa lưới bắt cá.
Sau ba ngày ăn thịt vít ớn đến tận cổ,chúng tôi bắt đầu đi bủa lưới bắt cá .Trời về chiều,chúng tôi đem hai tay lưới mua từ Đà Nẳng ra thả xuống bãi nước gần cầu tàu và dự trù sáng hôm sau sẽ rủ nhau ra gở cá .Chúng tôi trở vào nhà và yên trí nhờ hai tay lưới này chúng tôi sẽ có cá ăn đều đặn mỗi ngày.
   Sáng hôm sau thức dậy sớm mọi người gọi nhau đi gở cá mắc lưới .Đến nơi lội xuống bãi nước nơi thả hai tay lưới,chúng tôi thấy cá  mắc vào lưới dày đặc,nhiều nhất là cá rô biển và cá mó xanh ,ngoài ra cũng có  một vài con cá lạ mà chúng tôi không biết tên .Lưới quện vào nhau như một đống bùi nhùi,có đoạn rách toạc vì những con cá lớn vùng vẩy khi bị mắc lưới .Kết quả không như chúng tôi mong muốn,hai tay lưới chỉ dùng được một đêm ,loại cá mó xanh và cá rô biển thì không cần thả lưới bắt lúc nào cũng được .Hy vọng dùng hai tay lưới để có cá ăn hàng ngày đã tiêu tan và chúng tôi lên phương kế khác .
Câu cá mú bông.
Trong các loại cá quanh đảo,chúng tôi thấy cá mú bông là loại cá có thịt ăn ngon hơn cả .Dưới hang của những tảng bông đá biển thường có từ ba đến bốn con cá mú bông trú ngụ .Câu loại cá này thì cũng dễ dàng vì miệng cá lớn và lại tạp ăn .Để câu được cá mú bông ,chúng tôi phải lội ra chỗ có nước sâu đến ngực .Đầu tiên ,chúng tôi bắt ốc câu vài con cá mó xanh bằng lưỡi câu nhỏ xong cắt cá ra từng khúc móc vào lưỡi câu làm mồi câu cá mú, ném miếng mồi gần cạnh tảng bông đá,chìm đưới nước và nhìn thấy được miếng mồi .Vì nước biển trong và sóng nhỏ nên chúng tôi có thể nhìn thấy được những con cá mó xanh và cá rô biển bu quanh rỉa mồi .Từ trong hang bông đá ,cá mú sẽ chạy ra đớp mạnh miếng mồi và chạy ngược vào hang ,chúng tôi giật mạnh cần câu ,con cá chưa kịp vào hang đã bị dính lưỡi câu .Nếu chẳng may cá rúc vào hang rồi,bắt lấy cá rất khó .Đôi lúc chúng tôi phải dùng  một cây gậy dài để nạy tảng bông đá lên bắt lấy cá .Gặp phải tảng bông đá lớn thì phải đành cắt cước bỏ lười câu.
   Đi câu cá mú ,thường chúng tôi đi chung hai đến ba người ,đem theo mỗi người một cây gậy dùng để đi dạo biển .Cây gậy thường dài độ hai mét chắc và cứng  .Một đầu gậy  chúng tôi cột vào ba chỉa nhọn bằng sắt ,mục đích để cắm xuống cát giữ xâu cá mú câu được và dùng làm vũ khí để đề phòng chống đỡ những con cá mập lội gần bờ bắt mồi .Khi cá mập bơi đến gẫn  ,chúng tôi rút cây gậy và thọc lia lịa để xua cá mập đi nơi khác .Thường những con cá mập vào  kiếm mồi gần bờ không lớn lắm,chúng lội đưa cả vây trên lưng lên khỏi mặt nước .Trong khoảng thời gian hai đến ba tiếng  đồng hồ ,chúng tôi có thể câu được 50 đến 60 con cá mú (nếu mặt nước biển yên không có sóng )Phần nhiều sóng lớn đánh ngoài mí sóng và lan dần vào bờ đảo chỉ còn lại những gợn sóng nhỏ lăn tăn .Có nhiều hôm biển lặng mặt nước biển như một mặt gương  nằm ngang phẳng lặng .Gặp những hôm như vậy chúng tôi câu được rất nhiều cá mú bông .
   Cá mú câu được,chúng tôi dùng một phần nấu canh ,xào đôi lúc nướng ăn rất ngon,số lớn còn lại chúng tôi xẻ làm hai và phơi khô mang về đất liền .Cái thú của chúng tôi khi đi câu cá mú bông là đốt một đống lửa trên bãi cát nướng những con cá mú lớn vừa câu được,ngồi gở thịt ăn và tán gẫu chuyện đời .
Câu cá mập.
Một đêm trăng ,năm người chúng tôi rủ nhau ra cầu tàu câu cá mập .Để có đủ đồ nghề câu cá mập ngoài chiếc lưỡi câu lớn (có đường kính bằng đầu chiếc đủa )chúng tôi dùng ba sợi dây kéo điện thoại bện con tít lại với nhau dài độ 20 mét ,một cục chì lớn nấu từ 10 mũi đạn  Garant M1 cột vào gần lưỡi câu .Mồi là một con cá mú lớn .Nơi cầu tàu có một luồng nước sâu từ mí sóng chạy vào và có một khoảng cát rộng không có san hô .Những con cá mập lớn nhỏ từ mí sóng thường hay lộivào đây săn mồi khi thủy triều  lên .
   Sau khi móc mồi vào lưỡi câu,tôi cuốn vòng sợi dây điện thoại lại theo nhiều vòng và ném thật mạnh ra xa giống như những chàng cao-bồi miền viễn tây vung vòng dây bắt ngựa .Mồi chìm sâu xuống nước ,tôi cột sợi dây điện thoại vào cây cọc sắt trên cầu tàu vòng qua một thùng thiếc trống để khi cá mập ăn mồi kéo dây,thùng thiếc sẽ rơi xuống báo hiệu cho chúng tôi biết .Chúng tôi ngồi đợi cá ăn mồi và kể cho nhau nghe những chuyện ở quê nhà.
   Đúng như mong đợi của tôi,chiếc thùng thiếc rơi xuống ,tôi cầm dây điện thoại giật mạnh,con cá mập bị mắc  lưỡi câu .Với sức một mình tôi không thể nào kéo nổi ,bốn anh em lính xúm vào kéo hộ .Có lúc chúng tôi nới dây điện thoại ,có lúc chúng tôi kéo mạnh để quần thảo với con cá mập .Đang trên đà ráng sức kéo lui ,dây điện thoại đứt,chúng tôi ngã lăn trên cầu tàu .Kết quả mất một lưỡi câu cá mập và chúng tôi lồm cồm đứng dậy vào nhà .Tôi kể chuyện câu cá mập với bác Phong ,bác cười và cho tôi 20 sải cước câu cá mập .Cước có màu xanh nhạt và lớn hơn sợi dây điện thoại ,bác Phong nói chỉ có loại cước này mới đủ sức câu được cá mập lớn .
   Đêm hôm sau ,sửa soạn đầy đủ mọi thứ câu cá mập ,chúng tôi lại trở ra cầu tàu và lặp lại những động tác cũ .Ngồi đợi và tán gẫu với nhau độ 30 phút ,chiếc thùng thiếc rơi xuống báo hiệu cá đã ăn mồi ,tôi cầm sợi cước giật mạnh và cá mập mắc câu .Chúng tôi  chung sức lại  kéo  sợi cước,con cá mập trì mình lại ,chúng tôi nới cước  xong lại tiếp tục kéo và cứ như vậy đến hơn 30 phút,con cá mập mắc câu hình như đã đuối sức theo chiều cước vào đến gần chân cầu tàu Tôi rọi đèn xuống nước và thấy cá rất lớn .Con cá vẫn vùng vẫy lăn lộn còn chúng tôi xúm nhau giữ chặc sợi cước Tôi bảo Hóa –tên một người lính –chạy vào nhà lấy khẩu Garant M1 ,tôi nhắm bắn  nguyên một gắp đạn Garant tám viên vào đầu con cá mập ..Con cá bị đạn bớt vùng vẫy và đã yếu sức .Lúc bấy giờ tất cả chúng tôi đều có mặt trên cầu tàu .Mười người lính lội xuống nước khiên con cá lên để nằm dài trên sàn xi-măng , nó vẫn còn sống ,chiều dài gần 2,5 mét và thân cá rất lớn có màu xam xám .Chi –tên một người lính –tưởng cá đã chết,thò tay vào miệng rờ mấy cái răng,con cá táp mạnh bị thương một lóng tay .
   Chúng tôi khiên con cá mập bỏ lên xe gòong đẩy về nơi giếng nước trước tòa nhà chúng tôi ở .Đốt đèn sáng lên ,chúng tôi cắt đầu con cá mập và mổ bụng đem bộ lòng ra ngoài,bộ lòng cá đựng đầy một thúng lớn .Đầu con cá vẫn còn nguyên 8 mũi đạn Garant ghim vào mà không xuyên thấu qua được,lý do những mũi đạn khi tôi bắn xuống đã bị nước cản .Con cá tôi câu được có cái đuôi và bộ vây thật lớn .Trung sĩ Huynh xin toàn bộ .Tôi hỏi anh ta và được trả lời xin về làm thuốc .Sau này tôi mới biết được anh ta mang về đất liền và bán được rất nhiều tiền ,người ta mua để chế biến vi cá nấu súp .Chúng tôi lấy một ít lòng cá nấu cháo còn toàn bộ thịt cá tôi chia cho tất cả anh em  lính phơi khô làm khô cá mập .Trong suốt thời gian đóng trên đảo ,tôi và trung sĩ Huynh đã câu được  bốn con cá mập nhưng chỉ có con cá mập tôi câu được đầu tiên là lớn hơn cả .
Bắt cá chúc đầu.
Khi thũy triều rút xuống ,xung quanh đảo chỉ còn trơ lại những bãi san hô chạy ra xa tận mí sóng .Bình thường khi san hô ở dưới mặt nước ,chúng cho những màu sắc rất đẹp nhưng khi nước cạn ,san hô nhô lên khỏi mặt nước trông chúng xấu xí chỉ toàn là một màu trắng đục vì chưa bị khô chết .Vào thời điểm này ,chúng tôi rủ nhau đi tìm bắt cá chúc đầu .
   Sỡ dĩ chúng tôi gọi là cá chúc đầu vì chúng tôi không biết tên loại cá này .Mình cá hơi dẹp,lớn bằng bắp chân,vảy cá nhỏ màu trắng .Đặc biệt miệng cá rất nhỏ nên chúng thường chúc đầu xuống rỉa những sinh vật biển li ti bám dưới những gốc san hô hoặc trên mặt bông đá biển.Chúng say sưa rỉa mồi không hề để ý đến thời gian thủy triều xuống .Khi phát hiện nước đã rút ,chúng lui ra vùng nước sâu thì bị những rặng san hô như hàng rào  cản đường .Để thoát thân ,chúng tìm  những trũng nước rộng  để qui tụ vào đó .Chúng tôi cầm trên tay mỗi người một khúc cây ngắn rượt đánh và ném chúng lên  bãi san hô .Thường một trũng nước có khoảng 20 đến 25 con cá chúc đầu .Thịt chúng mềm,không có độ dai nên chúng tôi ít phơi khô .
Ném lựu đạn bắt cá.
Ngày rời đất liền,chúng tôi mang theo nhiều lựu đạn M 26 xin từ các bạn đồng đội để ra đảo ném cá , nhờ những quả lựu đạn này mà chúng tôi bắt được nhiều mẻ cá lớn .Khi thủy triều lên ,chúng tôi thường đi dạo quanh đảo để tìm những đàn  cá vào sát bờ , khi đã phát hiện ra ,chúng tôi xử dụng lựu đạn để bắt cá .Đã hai lần bắt cá bằng lựu đạn thất bại ,rút chốt lựu đạn , chúng tôi ném xuống ngay đàn cá , lựu đạn chìm xuống nước và chờ một vài giây sau mới nổ .Kết quả đàn cá  vụt chạy tứ tung chỉ chết có vài con chạy sau cùng .Một người lính tên Thanh đã “gồng mình” nghĩ ra một cách ném lựu đạn bắt cá  .Anh ta cho lựu đạn bật chốt trên tay,đếm 1,2,3 rồi mới ném xuống nước .(có hai loại lựu đạn :lựu đạn ném tay và lựu đạn gài,lựu đạn gài có một dấu chấm đỏ trên mỏ vịt ,bật mỏ vịt lựu đạn sẽ nổ ngay )Kết quả nhờ lối ném này,chúng tôi đã bắt được nhiều đàn cá bơi vào gần bờ .Có nhiều đàn cá anh em chúng tôi bắt được đến hai ,ba bao tải,loại bao tải gạo 46 kg  đem phơi khô .Hầu hết cá bắt bằng cách ném lựu đạn đều nhỏ như cá liệc hoặc cá đối .Chúng tôi cũng thử  ném lựu đạn để bắt cá mập nơi cầu tàu nhưng chẳng ăn thua gì đối với chúng .Lựu đạn nổ , chúng quay đuôi chạy ra mí sóng xong lại trở vào để ăn những con cá bị chết vì lựu đạn .
   Tôi còn nhớ,có một lần tôi cùng cậu vợ tôi Trần Huỳnh Mính,anh Phùng Rân và Phạm Phú Lợi đi ra Cù Lao Chàm đóng trại hè với học sinh Trần Quí Cáp .Tôi mang theo lựu đạn và dùng lối ném này bắt được một bao tải cá đủ loại về giao cho đầu bếp .Bây giờ đã là người lính già,nghĩ lại nếu phải ném lựu đạn theo kiểu này thì tôi sẽ xin đưa tay chào thua.
Ốc ở Hoàng Sa.
Ngoài những tài nguyên phong phú về hải sản như cá ,rong biển ,rùa biển quanh đảo ,Hoàng Sa còn có nhiễu loại ốc ngon như ốc gân,ốc vú nàng ,ốc nhảy ,ốc tai tượng v..v..và nhiều loại ốc hoa dùng trong lĩnh vực mỹ nghệ rất đẹp mắt .
Bắt ốc gân.
   Mọi người từ những đợt trước cũng như chúng tôi đều gọi loại ốc này là ốc gân ,nhưng thật ra hình dáng của chúng giống như một con sò rất lớn .Bình thường chúng lớn bằng chiếc nón sắt quân đội nhưng đôi khi chúng tôi cũng thấy được có con lớn gấp đôi .Chúng có hai chiếc vỏ,nơi miệng vỏ có những đường cong lên cong xuống rất bén ,khi chúng khép hai vỏ lại thì những đường cong này ăn khớp với nhau .Chúng mở và ngậm hai vỏ lại nhờ một sợi gân lớn màu trắng trong và có tính đàn hồi .
   Theo chỉ dẫn của bác Phong ,bắt ốc gân phải thật cẩn thận nếu chẳng may bị ốc kẹp ,gặp con ốc lớn có thể bị đứt lóng tay .Muốn bắt ốc gân phải dùng một cây gậy và một con dao bén có lưỡi giống như chiếc đục hoăc có thể dùng lưỡi lê mài bén để nhủi đứt gân ốc .
   Ở dưới nước ,ốc gân mở rộng hai vỏ ra để bắt mồi .Mồi là những sinh vật li ti bị hút và miệng .Khi phát hiện ra ốc gân ,chúng tôi lấy cây gậy thọc vào miêng ,ốc gân khép hai vỏ lại rất nhanh ,bị cấn cây gậy hai vỏ ốc không thể liền kín vào nhau được và để hở một đường trống dài  theo miệng ốc .Chúng tôi dùng dao nhủi sát bên trong vỏ ốc nơi có chiếc gân .Bị đứt gân , hai vỏ ốc tự động mở rộng và chúng tôi tiếp tục nhủi phần vỏ còn lại ,moi toàn bộ thịt ốc ra và gở lấy gân .
Thường sợi gân ốc khi thun lại có đường kính từ hai đến ba phân .Chúng tôi chỉ bắt những con ốc gân có độ lớn  hơn cái tô lớn ,thịt và ruột ốc rất nhiều nhưng chúng tôi không ăn mà chỉ bằm nhỏ làm thức ăn cho vịt .Gân ốc ,chúng tôi dùng dao lạng theo vòng tròn hoặc xẻ mỏng dài theo đường zic-zac đem phơi khô .Gân ốc gân khô nướng ăn ngon hơn mực khô nhưng gân còn tươi đem xào ăn rất dỡ .
(còn tiếp)
Nguồn: Thatsonchaudoc