Tìm kiếm Blog này

Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình luận. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bình luận. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2016

Biển Đông – Cuộc tranh giành quyền lực ở châu Á

Hải chiến Hoàng Sa trong sách 'South China Sea: the struggle for power in Asia'
Song Phan
17 Tháng 1 lúc 10:47 ·
Vào những ngày này cách đây 42 năm, hải quân miền Nam đã cố tìm cách chặn lại cuộc xâm của hải quân Tàu đối với các đảo ở cụm phía Tây quần đảo Hoàng Sa và dẫn đến trận hải chiến ngày 17/1/1974 với kết quả là Tàu nắm quyền toàn bộ quần đảo này cho tới nay. Xin trích lại phần nói về trận chiến này trong chương 3 cuốn 'Biển Đông: cuộc tranh giành quyền lực ở Châu Á' (South China Sea: the struggle for power in Asia) của Bill Hayton mà tôi đã giới thiệu (https://drive.google.com/…/0B_lidFOs3N1XQXlsbDVCYk5hc…/view…):
"....Hiện nay chúng ta biết rằng chiến dịch [Hoàng Sa – ND] đã được lên kế hoạch trong một thời gian trước đó. Lịch sử chính thức của Hải quân Trung Quốc xuất bản tại Bắc Kinh vào năm 1987 cho chúng ta biết rằng lệnh được đến từ nơi chóp bu nhất: nó đã được Mao Trạch Đông và Chu Ân Lai đưa ra vào năm 1973. Người được họ giao trách nhiệm là Đặng Tiểu Bình, về sau là lãnh đạo ‘trên thực tế’ của đất nước này nhưng vào thời điểm đó, chỉ vừa mới được gọi về lại thủ đô sau 6 năm sống trong ô nhục chính trị. Việc chuẩn bị đã được giữ bí mật rất cao nhưng theo một tài liệu quân sự Mĩ giải mật sau này do Gerald Kosh viết đã cho chúng ta biết rằng quân đội Trung Quốc đã bắt đầu huấn luyện cho một loại chiến dịch nào đó vào khoảng tháng 9 năm 1973. Một nguồn của Tình báo Mĩ ở cảng Bắc Hải của Trung Quốc đã báo cáo về việc thắt chặt an ninh ở đây quanh thời gian này - mặc dù liên kết với những gì đã xảy ra về sau sẽ chỉ được thực hiện sau này. Từ giữa tháng 12 trở đi, mỗi ngày người ta đều thấy hàng trăm lính đặc nhiệm Trung Quốc rời cảng trên 6 tàu đánh cá và trở về vào mỗi tối. Điều này tiếp diễn trong khoảng 10 ngày. Họ đã sẵn sàng cho hành động vào đầu tháng 1.[22]
Khi người Việt chuẩn bị Tết, tin về nhiều tàu lạ xuất hiện quanh Quần đảo Hoàng Sa truyền tới Sài Gòn. Một tàu Hải quân Việt Nam được phái đi để tìm xem chuyện gì đang xảy ra. Ngày Thứ Hai, 14 tháng 1 những lo ngại của chỉ huy cao cấp đã được khẳng định. Hai tàu đánh cá của Trung Quốc bỏ neo cách đảo Hữu Nhật (Robert Island) 300 mét. Đột nhiên, hải quân phải tăng tốc, họ đã quen với việc yểm trợ các cuộc hành quân trên đất liền hoặc tuần tra các tuyến đường sông ở đồng bằng sông Cửu Long, bây giờ phải đối mặt với khả năng đánh nhau trên biển. Đồng thời các chỉ huy không thể loại trừ khả năng là hoạt động này của Trung Quốc chỉ dùng để phân tâm giúp lực lượng cộng sản thực hiện một bước đột phá trên đất liền.

Thứ Sáu, 22 tháng 1, 2016

So sánh Hoàng Sa 19/1/1974 và Trường Sa 14/3/1988

Cộng đồng mạng - Truyền thông Đăng ngày Thứ năm, 21 Tháng 1 2016 09:12

Việc coi những chiến sĩ hi sinh ở Trường Sa năm 1988 như những người “bị giết chết uất ức vì theo lệnh của chỉ huy trên đất liền là không được đánh trả” là một sự xúc phạm không thể dung thứ anh linh những người đã khuất.



Một bài viết trên trang mạng RFA mới đây của Tuấn Khanh - một nhạc sĩ đang sinh sống tại TP HCM - đã đăng hình ảnh tấm bia ghi hàng chữ "Nghĩa sĩ Hoàng Sa" (chụp trong buổi lễ đặt đá xây dựng Khu tưởng niệm “Nghĩa sĩ Hoàng Sa” tại huyện đảo Lý Sơn, tỉnh Quảng Ngãi ngày 17/1 vừa qua) cùng một đoạn nhận xét như sau:

Thứ Năm, 24 tháng 12, 2015

Những vấn đề cần làm rõ thêm


Cần làm rõ thêm một số vấn đề tác chiến
Theo dòng diễn biến

- Ra đa của VNCH có quét tới Hoàng Sa? VNCH có cử máy bay trinh sát (dù còn xa nơi xảy ra HS)?. Mọi tin tức tình báo VNCH dựa vào Hạm đội 7 của Mỹ, trước khi xảy ra hải chiến, phía VNCH có biết gì về hoạt động của TQ ở Phú Lâm?
- Hải đội trưởng và các hạm trưởng, có ai biết trước địa hình quần đảo Hoàng sa?

- Kế hoạch hành quân: Ông Thoại bảo không có kế hoạch nào cả, trong khi đó nhóm SQ tham mưu (Hải Sử) cho rằng có lên kế hoạch chi tiết gồm 2 giai đoạn, kết hợp hải quân, không quân và biệt hải?

- Vì sao VNCH không dùng máy bay như C-7, C-123 đủ tầm xa để hổ trợ tác chiến và cứu hộ cho hải đội khi tình hình đã nóng lên từ ngày 18?

- TQ có máy bay trinh sát trước lúc xảy ra hải chiến?

- Tàu HQ-4 có ra đa có thông báo cho các tàu khác biết tàu TQ đang hoạt động?
- Có thật khi nổ súng hải chiến, tàu TQ tăng tốc tiến thẳng về tàu VNCH để tránh tầm pháo của hải quân VNCH?
- Pháo tàu HQ4... vì sao trở ngại tác xạ, các loại súng từ 20 ly trở xuống có hạn chế tầm gần nên không bắn được tàu TQ không? Trên các tàu Biệt hải có súng M-72 sao không sử dụng bắn? Sau hải chiến còn khoảng bao nhiêu đạn pháo 76 và 20 ly.

- TQ chiếm thêm đảo Quang Hoà, Duy Mộng; VNCH còn Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh, hai bên đều thiệt hại năng nhưng VNCH còn 3 tàu và quân bộ còn trên 3 đảo vì sao có thể giữ mà rút bỏ?

- Theo ông Trục nguyên TB Biên giới viết trên báo dựa vào tài liệu nào mà cho rằng sau nổ súng, một số tàu cùng biệt hải tăng viện đến nhóm đảo Lưỡi Liềm, rồi rút về, thật không, ai biết?

Thứ Tư, 23 tháng 12, 2015

Đánh giá, bình luận chung


Năm 1972, quân đội NDVN mở những chiến dịch lớn tuy không đạt mục tiêu như ý trên chiến trường nhưng đã làm quân đội VNCH và Mỹ đối phó căng thẳng và nó cho thấy sự trổi dậy mạnh mẽ của đối phương.
Năm 1973, VNCH tập trung chiến lấn chiếm lãnh thổ và dân cư trên toàn Miền Nam.
Sự kiện Hoàng Sa 1974 diễn ra trong bối cảnh Mỹ rút quân khỏ Việt Nam, Hạm đội 7 thu dần đội hình, không còn kiểm soát chặt Biển Đông như trước. Quốc hội Mỹ cắt giảm viện trợ cho chế độ VNCH, quân đội VNCH xuống tinh thần, trong khi đó quân đội NDVN ngày càng lớn mạnh, vây ép đối phương trên nhiều hướng. ưu thế trên chiến trường đã nghiêng dần sang phía Quân Đội Nhân Dân Việt Nam. Từ năm 1974, Bộ Chính trị Đảng CSVN hạ quyết tâm giải phóng Miền Nam, cho thấy sự sụp đổ của chế độ VNCH chỉ còn là vấn đề thời gian.
Tuy VNCH có quan tâm phần nào đến chủ quyền ở quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa nhưng việc giữ chân đứng trong đất liền mới là vấn đề sống chết của chế độ. Trung Quốc đã nắm lấy cơ hội Mỹ rút, VNCH đang lâm nguy và VNDCCH đang đồn sức hạ đối phương để thôn tính cụm đảo Lưới Liềm, chiếm trọn quần đảo Hoàng Sa.
Nói về tương quan lực lượng, VHCH có phần trội hiện đại hơn TQ về phương tiện hải - không quân , ngược lại TQ hơn VNCH về số lượng tàu chiến. Cả hai bên chưa từng hải chiến nhưng hải quân VNCH có kinh nghiệm trận mạc trong việc chặn ghe tàu trên biển từ Bắc xâm nhập tiếp tế vào Nam và tác chiến hổ trợ quân bộ trên các sông ngòi, của biển, Hải quân TQ chỉ diến tập, chưa từng đánh nhau với đối thủ nào. Tinh thần quân sĩ hai bên có thể là ngang ngửa nhau, VNCH tự tin ở kinh nghiệm và phương tiện, mơ hồ về lực lượng tiếp viện. TQ có tâm lý bành trướng, tự tin là quân cường quốc và phía sau sẽ có quân hổ trợ.

Thứ Năm, 4 tháng 6, 2015

3 Hình tội Chiến tranh xâm lược của Trung quốc đối với nhân dân Việt Nam


Tuyên cáo về các Nguyên tắc Luật Quốc tế về Liên hệ Hữu nghị và Hợp tác giữa các Quốc gia theo đúng Hiến chương Liên hợp quốc (“Tuyên cáo”) được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 17 tháng 10 năm 1970 quy định “Nguyên tắc rằng mọi Quốc gia, trong các liên hệ quốc tế, tự kiềm chế không dùng hăm dọa hay sử dụng vũ lực chống lại toàn vẹn chủ quyền hoặc độc lập chính trị của bất kỳ Quốc gia nào hoặc dưới bất kỳ hình thức nào trái ngược với các mục đích của Hiến chương Liên hợp quốc.”
Bản Tuyên cáo tuyên bố:
“Chiến tranh xâm lược cấu thành hình tội chống hòa bình, do đó phải chịu trách nhiệm trước luật pháp quốc tế.”
“Mỗi Quốc gia đều có nhiệm vụ tự kiềm chế không dùng hăm dọa hay sử dụng vũ lực để vi phạm các ranh giới quốc tế đang hiện hữu của một Quốc gia khác hoặc như là một phương pháp giải quyết các tranh chấp quốc tế, kể cả các tranh chấp lãnh thổ và các vấn đề liên hệ đến các vùng biên giới của các Quốc gia.”
Bản tuyên cáo “tuyên bố thêm rằng: Các nguyên tắc của Hiến chương bao gồm trong Tuyên cáo này cấu thành các nguyên tắc căn bản của luật quốc tế.”
(Hình tội chiến tranh xâm lược được Đại hội đồng Liên hợp quốc điều chỉnh thêm với định nghĩa “xâm lược” trong Nghị quyết 3314 ngày 14 tháng 12 năm 1974, và Tu chính án cho Đạo luật Rome của Tòa Hình sự Quốc tế ngày 11 tháng 6 năm 2010 thêm “hình tội xâm lược” vào Đạo luật Rome).
Tuy nhiên, hoàn toàn gạt bỏ hình luật quốc tế ra ngoài, Trung quốc trắng trợn vi phạm 3 hình tội chiến tranh xâm lược đối với Việt Nam năm 1974, 1979 và 1988.
 1. Hình tội xâm lược đầu tiên của Trung quốc: Chiến tranh Hoàng Sa 1974
Ngày 19 tháng 1 năm 1974, Hải quân của Cộng hòa Nhân dân Trung hoa (“Hải quân Trung quốc”) tấn công Hải Quân của Việt Nam Cộng hòa (“Hải quân VNCH”), lực lượng đang nắm giữ Hoàng sa cho nước Việt Nam thể theo các thỏa thuận tại Hội nghị Geneva 1954. Phần nửa của quần đảo Hoàng Sa phía tây nam dưới sự kiểm soát của Việt Nam có tên là nhóm Nguyệt Thiềm. Nửa đông bắc là nhóm An Vĩnh, trên đó Việt Nam cũng có tuyên bố chủ quyền, nhưng bị Trung quốc chiếm đóng từ năm 1956.
Hải quân Trung quốc thắng Hải quân VNCH, giết 74 chiến sĩ VNCH và chiếm nhóm Nguyệt Thiềm, với hậu quả là Trung quốc chiếm đóng toàn quần đảo Hoàng Sa từ đó cho đến nay.
Dù cho mỗi bên có những tuyên bố chủ quyền như thế nào, sử dụng vũ lực quân sự để giải quyết tranh chấp lãnh thổ, giết người và chiếm lãnh thổ của một Quốc gia khác, là hình tội xâm lược đối với hình luật quốc tế.
Bản Tuyên cáo quy định:
“Lãnh thổ của một Quốc gia không thể là đối tượng của chiếm đóng quân sự, hậu quả của sử dụng vũ lực ngược với các quy định của Hiến chương Liên hợp quốc. Lãnh thổ của một Quốc gia không thể là đối tượng chiếm giữ của một Quốc gia khác, hậu quả của hăm dọa hay sử dụng vũ lực. Không việc chiếm giữ lãnh thổ nào bằng hăm dọa hay sử dụng vũ lực được thừa nhận là hợp pháp.”
Không việc chiếm giữ lãnh thổ nào, hậu quả của việc sử dụng vũ lực của Trung quốc, được thừa nhận là hợp pháp bởi bất kỳ tòa án nào của thế giới, bất kỳ tổ chức quốc tế nào của thế giới, hoặc bất kỳ Quốc gia nào của thế giới. Sẽ không bao giờ có được sự thừa nhận quốc tế nào đối với tuyên bố chủ quyền của Trung quốc trên nhóm Nguyệt Thiềm của quần đảo Hoàng Sa, nếu không là trên toàn quần đảo Hoàng Sa.

2. Hình tội Chiến tranh xâm lược thứ hai của Trung quốc: Xâm lược biên giới 1979 và các tấn công biên giới trong thập niên sau đó
Ngay sau khi quân đội Việt Nam vào Campuchia ngày 23 tháng 12 năm 1978 để giải cứu dân số đã bị tàn sát cực độ của Campuchia khỏi bàn tay của chế độ giệt chủng Khmer Đỏ, Trung quốc quyết định “dạy Việt Nam một bài học” (chỉ vì Trung quốc ủng hộ chế độ diệt chủng Khmer Đỏ), bằng cách chuyển 120 nghìn quân và hàng trăm xe tăng và máy bay vượt qua biên giới phía bắc tiến vào Việt Nam. Cho đến ngày 6 tháng 3 năm 1979 khi Trung quốc rút quân khỏi Việt Nam, khoảng 10 nghìn người Việt Nam đã bị các lực lượng xâm lăng của Trung quốc giết.
Dù đã rút về, các lực lượng quân sự Trung quốc tiếp tục tấn công vào biên giới phía bắc Việt Nam trong suốt thập niên sau đó, gây ra hàng trăm cái chết mỗi năm, cho đến sau cuộc thảm sát Trường Sa năm 1988 và đến tận đầu thập niên 1990.
Năm năm trước cuộc chiến xâm lược 1979, Đại hội đồng Liên hợp quốc đã điều chỉnh thêm định nghĩa của hình tội xâm lược bằng Nghị quyết 3314, ngày 14 tháng 12 năm 1974, quy định:
“Xâm lược là việc sử dụng vũ lực quân sự bởi một Quốc gia chống lại chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và độc lập chính trị của một Quốc gia khác, hoặc dưới bất kỳ hình thức nào ngược lại với Hiến chương Liên hợp quốc”
“Hành vi xâm lược là việc xâm lấn hay tấn công bằng các lực lượng vũ trang của một Quốc gia đối với lãnh thổ của một Quốc gia khác, hay bất kỳ chiếm đóng quân sự nào, dù tạm thời đến đâu, mà là hậu quả của việc xâm lấn hay tấn công đó, hoặc bất kỳ việc sát nhập lãnh thổ nào của một Quốc gia khác bằng cách sử dụng vũ lực.”
Cuộc chiến xâm lược của Trung quốc năm 1979 để hỗ trợ một trong những chế độ diệt chủng hàng đầu của thế kỷ 20, và để tấn công Việt Nam trong khi Việt Nam đang làm nhiệm vụ nhân đạo quốc tế để giải cứu dân số đã bị tàn sát cực độ của Campuchia khỏi những cánh đồng giết người của Khmer Đỏ, thật là kinh hoàng cho lương tâm con người và cho ý thức về công lý và nhân phẩm của mọi công dân và mọi quốc gia của thế giới đến nỗi từ ngữ không thể diễn tả đủ. Cuộc chiến xâm lược 1979 của Trung quốc tấn công vào lãnh thổ Việt Nam là một hành động hình tội vào mức độ cao nhất.
Trung quốc phải chịu trách nhiệm cho cái chết của mười nghìn người Việt trong cuộc chiến xâm lược 1979 và trong những cuộc tấn công biên giới trong thập niên sau đó.
 
3. Hình tội Chiến tranh xâm lược thứ ba của Trung quốc: Cuộc thảm sát Trường Sa 1988

Đây không là một cuộc chiến, mà là một cuộc thảm sát của một tổ chức tội phạm giết người cao cấp nhất. Một video ghi lại các sự kiện thật tại Johnson South Reaf, trong vùng Trường Sa, vào ngày 14 tháng 3 năm 1988, do Hải quân Trung quốc ghi lại ngày đó, cho thấy một lực lượng lớn của Hải quân Trung quốc với hỏa lực rất mạnh đơn giản là bắn và làm chìm hai tàu vận tài không súng ống, và làm hư hại một tàu vận tải khác không súng ống, và thảm sát những chiến sĩ mang vũ khí nhẹ bảo vệ các tàu này, giết chết 64 chiến sĩ và chiếm 6 nơi đầu tiên ở Trường Sa.
Đây không phải là chiến tranh hay chiến trận. Đây đơn giản là thảm sát. Các bạn vui lòng dành vài phút xem video này để thấy sự thật tận mắt.


“Không việc chiếm giữ lãnh thổ nào bằng hăm dọa hay sử dụng vũ lực được thừa nhận là hợp pháp.”
Tất cả những nơi chiếm đóng của Trung quốc ở Trường Sa là của cướp từ hành động hình tội và không thể được thừa nhận bởi Liên hợp quốc, bất kỳ tổ chức quốc tế nào, hoặc bất kỳ Quốc gia nào.

Đại hội đồng Liên hợp quốc đã tuyên bố: “Chiến tranh xâm lược cấu thành hình tội chống hòa bình, do đó phải chịu trách nhiệm trước luật pháp quốc tế.”
Trung quốc đã thường xuyên thực hiện các hành động hình tội như thế, và ngày nay vẫn tiếp tục dùng vũ lực quân sự để giành đất ở Biển Đông, thường xuyên đặt hòa bình thế giới vào tình trạng có thể vỡ vụn.
Qua tất cả mọi chuyện này, thế giới hình như quên mất là có hình luật trong sách luật của thế giới và không ai bắt Trung quốc phải trả giá cho tác phong tội phạm của họ.
Tuy nhiên, thế giới không nên là nơi phi pháp và trật tự tốt của thế giới mà nhiều công dân và Quốc gia của thế giới đã làm việc cực khổ để xây đựng qua nhiều thập niên khó khăn không nên để bị mất theo ý muốn của một người điên kiêu căng.
Chúng tôi đang yêu cầu mọi công dân và chính phủ của thế giới bắt buộc Trung quốc phải chịu trách nhiệm cho những thiệt hại mà các hoạt động hình tội của họ đã tạo ra cho nhân dân Việt Nam vì 3 hình tội chiến tranh xâm lược này.
Chúng tôi cũng sẽ nói đến những hình tội xâm lược của Trung quốc đối với những dân tộc khác trên thế giới.
Chúng tôi sẽ làm chắc rằng hình luật quốc tế hoạt động để bắt Trung quốc chịu trách nhiệm, trả giá cho các hình tội của họ, và có tác phong của một công dân tuân thủ luật pháp của thế giới.
Chúng tôi tuyệt đối chắc chắn mọi công dân và chính phủ của thế giới sẽ hỗ trợ lời chúng tôi kêu gọi gìn giữ luật lệ và trật tự thế giới.

Trần Đình Hoành
Washington DC, Mỹ
Ngày 5 tháng 8 năm 2014
(Tác giả là luật sư tranh tụng tại Washington DC. Tác giả tư vấn cho một số chính phủ về các vấn đề pháp lý và chính trị quốc tế, và là người thành lập UNCLOSforum.com)

Xem thêm: Bản tiếng Anh
Nguồn: Unclosforum.com

Thứ Ba, 31 tháng 3, 2015

1974, VNCH có thể giữ được Hoàng Sa?

Nhớ lại và suy ngẫm về vụ Hải Chiến Hoàng Sa (1974)



Đặt vấn đề
trích vài đánh giá ngược chiều



Bill Hayton trận hải chiến Hoàng Sa không phải là màu hồng.
Ông kết luận “Đánh giá một cách khách quan, trận chiến là một thảm họa, tuy nhiên những lính quay trở về được chào đón như những người hùng. Truyền thông Nam Việt Nam được kể lại rằng đội tàu VNCH đã làm chìm hai tàu và ngăn cản được hạm đội Trung Quốc lớn hơn nhiều lần. Trận chiến được thêu dệt ly kì như huyền thoại vào đúng dịp Tết. Nhưng trên thực tế, đó lại là một thảm họa”
Thiếu Tá Hải Quân Trần Trọng Ngà (Khóa 12 SQ/HQNT) làm Trưởng Ban Ủy Ban Nghiên Cứu Trận Hải Chiến Hoàng Sa
Mặc dù HQVNCH mất một chiến hạm và 74 quân nhân đã hy sinh nhưng chính sự hy sinh sinh mạng và hao tốn chiến cụ này đã là một chứng cớ cụ thể xác quyết quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam và người Việt đã đổ máu để bảo vệ.
Đây là một bằng chứng thực tế không thể hiểu sai, bên cạnh các bằng chứng về lịch sử và địa lý, để xác nhận chủ quyền quần đảo Hoàng Sa thuộc về Việt Nam mà Trung Cộng đã dùng vũ lực để chiếm đoạt. Trong ý nghĩa đó, trận hải chiến Hoàng Sa là một chiến tích quan trọng của dân tộc Việt.



Hải quân Trung quốc sau khi đánh bại hạm đội Việt Nam Cộng Hòa đã không truy kích để cho hạm đội VNCH an toàn trở về căn cứ Đà Nẵng (xem bài Trận hải chiến lịch sử Hoàng Sa của đại tá Hà Văn Ngạc).





M

Trần Bình Nam - Đọc cuốn “Hải Chiến Hoàng Sa”

Cuốn Hải Chiến Hoàng Sa do Ủy Ban Nghiên Cứu Trận Hải Chiến Hoàng Sa soạn thảo. Ủy ban được gọi tắt là Ủy Ban Hoàng Sa (UBHS) và do Tổng Hội Hải Quân & Hàng Hải Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Hải Sử bảo trợ thành lập. UBHS ra đời năm 2004 và cuốn Hải Chiến Hoàng Sa là kết quả của 6 năm làm việc không ngừng của UBHS do cựu Hải Quân Thiếu Tá Trần Trọng Ngà làm Trưởng Ban cùng với 7 Ủy viên khác đều là cựu sĩ quan hải quân.

Trận hải chiến Hoàng Sa giữ gìn bờ cõi giữa Hải quân Việt Nam Cộng Hòa (HQ/VNCH) và Hải quân Trung quốc (HQ/TQ) ngày 19/1/1974 là trận hải chiến đầu tiên với vũ khí hiện đại trong lịch sử Việt Nam không kể những trận hải chiến bằng tàu thuyền gỗ giữa các đội thủy quân Việt Nam với Chiêm Thành và Trung quốc trong những thế kỷ trước.

Trận hải chiến Hoàng Sa đã làm mất nhiều giấy mực. Nhưng trong xúc động và xáo trộn của biến cố 30/4/1975 liền sau đó các sự việc của trận đánh (như nguyên nhân, diễn tiến, kết thúc, thắng bại, hoạt động ngoại giao…) chưa được phân tích đầy đủ. Các tài liệu được viết đã khác nhau ở rất nhiều điểm then chốt, ngay cả sự kể lại diễn tiến trận đánh của các sĩ quan chỉ huy trận đánh, Hải Quân Đại Tá Hà Văn Ngạc và 3 vị hạm trưởng tham dự trận chiến còn sống sót. Hải Quân Trung Tá Vũ Hữu San chỉ huy chiến hạm HQ 4, Hải Quân Trung Tá Phạm Trọng Quỳnh chỉ huy chiến hạm HQ 5, Hải Quân Trung Tá Lê Văn Thự chỉ huy chiến hạm HQ 16. Hải Quân Thiếu Tá Ngụy Văn Thà chỉ huy chiến hạm HQ 10 đã tử trận khi lâm chiến.

Ngày 30/4/1975 khi đoàn tàu HQ/VNCH rời khỏi nước không ai mang theo các tài liệu liên quan đến trận hải chiến, trong đó có một tài liệu quan trọng là Bản Tường Trình của Ủy Ban điều tra về trận đánh của Bộ Tư Lệnh Hải Quân (BTL/HQ). Nếu có tài liệu này sự tranh cãi giữa các nhân vật liên hệ có thể đã không diễn ra hay ít nhất cũng giới hạn được rất nhiều các điểm cần tranh cãi.

Đại tá Hà Văn Ngạc trước khi qua đời năm 1999 tại Hoa Kỳ có viết một tài liệu nhan đề “Trận Hải chiến lịch sử Hoàng Sa” nói về trận đánh. Đây là tài liệu có thẩm quyền nhất của người trong cuộc. Nhưng một số hạm trưởng trong hải đoàn đặc nhiệm bảo vệ Hoàng Sa của ông nhìn diễn tiến cuộc chiến qua lăng kính của chiến hạm họ chỉ huy đã nêu ra nhiều điểm khác biệt. Và trong nội bộ HQ/VNCH đã có những cái nhìn rất khác nhau ngoài mẫu số chung là HQ/VNCH đã giao chiến với HQ/TQ khi Trung quốc muốn chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Sự khác biệt nhau rất rộng ngay cả sự đánh giá thắng hay bại.

Thậm chí khi Hội Bạch Đằng ở San Jose tự sưu tầm tài liệu và nhân chứng thực hiện một DVD ngắn nói về trận hải chiến Hoàng Sa được vị cựu Tư Lệnh Hải Quân Trần Văn Chơn và nhiều sĩ quan HQ/VNCH khác xem là tương đối gần sự thật nhất cũng đã gặp phải sự “phiền hà” gay gắt của một trong 3 hạm trưởng còn sống sót khi DVD nói một trong 4 chiến hạm tham chiến đã gặp trở ngại tác xạ sau phát súng đại bác đầu tiên.

Có lẽ đó là lý do UBHS ra đời với mục đích nghiên cứu để viết một tài liệu lịch sử thật chính xác về cuộc hải chiến Hoàng Sa. Thiếu Tá Trần Trọng Ngà trưởng ban, và Trung Tá Nguyễn Mạnh Trí, ủy viên UBHS tâm sự rằng để đạt mục đích này UBHS đã phải cố gắng hết mình gạt bỏ ra ngòai mục tiêu tuyên truyền và các xúc động cá nhân.

Thiện chí của UBHS thể hiện trong cách sắp xếp công việc của Ủy Ban không theo thủ tục thường lệ là sĩ quan thâm niên nhất làm trưởng ban. Trung Tá Nguyễn Mạnh Trí khóa 10 SQHQ Nha Trang là một người nghiên cứu về “Tranh Chấp Biển Đông" với Web www.tranhchapbiendong.com của ông làm ủy viên,

và Thiếu Tá Trần Trọng Ngà khóa 12 SQHQ Nha Trang làm Trưởng Ban (đúng ra phải gọi là Chủ tịch Ủy Ban). Ông Trần Trọng Ngà được biết nhiều ở hải ngoại qua biệt danh Trần Quốc Bảo, một trong những sáng lập viên và hiện là chủ tịch Tổ chức Phục Hưng Việt Nam (thành lập năm 1978), và cũng là Trưởng ban Điều hành Phong Trào Sài Gòn, đoàn thể đã thực hiện phim "Sự thật về Hồ Chí Minh".

Trận đánh diễn ra cách đây 36 năm nên chưa đủ dài để có một lịch sử thật chính xác. Thí dụ các tài liệu mật về phía Trung quốc (Trung quốc có tiết lộ một số chi tiết với mục đích tuyên truyền). Và những sự việc quan trọng như ông Kissinger, Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ đã nói gì với Thủ tướng Chu An Lai khi hai người gặp nhau tại Bắc Kinh cuối năm 1973 bàn về quan hệ Mỹ-Nga-Tàu.

UBHS đã dùng một số tài liệu Trung quốc công bố sau khi gạn lọc.

Nhưng về quan hệ Mỹ-Trung - có lẽ UBHS cho là một vấn đề tế nhị và chưa có bằng chứng xác thực - đã không nghiên cứu kỹ hơn, mặc dù đã có những bài viết nghiêm chỉnh đăng trên tờ Đi Tới ở Canada (1) và nhiều báo Việt ngữ tại Hoa Kỳ bàn về vấn đề này (2)

Tài liệu về phía HQ/VNCH cũng thiếu sót nhiều. Vị sĩ quan hải quân Chủ tịch Ủy Ban điều tra hiện ở Hoa Kỳ cũng cho biết không còn nhớ được bao nhiêu vì thời gian. Riêng tài liệu về phía Hoa Kỳ chỉ có một bản tường trình công khai của ông cựu đại úy Gerald Kosh khi theo đoàn tàu HQ/VN ra Hoàng Sa và bị bắt trên đảo. Bộ Quốc Phòng Hoa Kỳ còn cất giữ nhiều tài liệu về vụ Hoàng Sa. UBHS có thể dùng luật “Information Act” của Hoa Kỳ để xin giải mật những tài liệu này nhưng UBHS không đủ thời gian và phương tiện.

Cuộc phỏng vấn các sĩ quan hải quân cao cấp VNCH liên hệ còn sống tại hải ngoại trong đó có vị TL/HQ năm nay đã hơn 90 tuổi và phó Đề Đốc Tư lệnh Vùng I Duyên Hải lúc đó thì nói chung vì tuổi tác và thời gian cũng không ăn khớp với nhau. Đáng tiếc nhất là ngoài đại tá Hà Văn Ngạc đa qua đời, trong 3 vị hạm trưởng còn sống, chỉ có Trung Tá Lê Văn Thự, hạm trưởng HQ 16 nhận trả lời phỏng vấn của UBHS.

Dù 36 năm chưa đủ dài nhưng cũng không quá ngắn để UBHS có thể viết một tài liệu đầy đủ các mặt của vấn đề. Về mặt này UBHS đã rất thành công.

Cuổn HCHS gồm 3 phần chính: Phần I nói về địa lý và lịch sử của quần đảo Hoàng Sa. Phần II nói về trận hải chiến. Phần III là phụ bản ghi lại nguyên văn (verbatim) các cuộc phỏng vấn, ngoại trừ cuộc trà đàm với ông Nguyễn Văn Ngân, cựu cố vấn đặc biệt tổng thống Nguyễn Văn Thiệu được UB ghi lại.

Ở đây tôi không đi vào chi tiết của các phần. Cuốn HCHS tự nó đã rất đầy đủ. Tôi chỉ ghi lại những nhận xét tổng quát của từng phần .

Phần I, với nhưng bằng chứng lịch sử, diện địa, đất đai, và tài liệu ngoại giao UBHS đã chứng minh một cách hùng hồn quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Cuộc đấu tranh giành lại biển đảo đã mất sẽ rất cam go. Thế kỷ này là thế kỷ của Trung quốc trên con đường vươn lên để làm bá chủ. Trung quốc đang biến quần đảo Hoàng Sa thành một căn cứ quân sự nối dài về phía sau với căn cứ Hải quân tại Yulin ở cực nam đải Hải Nam, và nối dài về phía trước với quần đảo Trường Sa trong sách lược chiếm cứ Biển Đông và chia đôi Thái Bình Dương với Hoa Kỳ .

Phần II miêu tả những vận chuyển chiến thuật của 4 chiến hạm VNCH khi lâm trân. HQ/VNCH đã phải nổ súng trước, khi các tàu Trung quốc ngăn cản không cho đổ lính và người nhái lên đảo. Mặt khác, nổ súng trước để lấy thế thượng phong.

HQ/VNCH cũng như HQ/TQ đều chưa có nhiều kinh nghiệm hải chiến trên đại dương nên UB không thể trình bày một thế trận theo sách vở tại các trường dạy về hải chiến. Cuối cùng HQ/VNCH quyết định triệt thối về căn cứ hải quân Đà Nẵng để bảo toàn chủ lực. HQ/TQ bắt tù binh trên đảo và trên biển, trong đó có đại úy Kosh. Sau đó Trung quốc đưa nhiều tiểu đoàn bộ binh đến đổ bộ chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa. Trung quốc đưa tất các tù binh về đảo Hải Nam và Quảng Đông, được ghi nhận đối đãi tử tế. Sau khi phỏng vấn tù binh lấy lệ, 10 ngay sau Trung quốc trả tự do cho ông Kosh và 4 quân nhân Việt Nam, và cuối tháng 2/1974 tất cả 45 tù binh sĩ quan cũng như binh sĩ VNCH còn lại đều được trả tự do tại Hồng Kông.

Phần III là phần phỏng vấn. Nội dung các cuộc phỏng vấn đã được UB dùng một cách có hệ thống trong suốt cuốn HCHS. Trong 16 nhân vật được phỏng vấn có 3 cuộc phỏng vấn đáng quan tâm, và đáng ra UBHS nên in lại nguyên văn bài viết “Trận Hải chiến lịch sử Hoàng Sa” của Đại Tá Hà Văn Ngạc trong phần này dù ông đã qua đời .

Cuộc phỏng vấn cựu Ngoại trưởng Vương Văn Bắc tiết lộ cuộc đấu tranh ngoại giao hết sức tích cực và đúng bài bản trên diễn đàn quốc tế để chứng minh quần đảo Hoàng Sa là của Việt Nam. Trước cuộc chiến, Bộ Ngoại Giao VNCH đã đưa ra những tuyên bố tố cáo định tâm xâm lăng của Trung quốc. Và sau cuộc chiến cũng đã đệ nạp cho Liên hiệp quốc những văn kiện khiếu nại cần thiết. Các thủ tục ngoại giao quốc tế và các tài liệu để lại sẽ là căn bản pháp lý quan trọng cho công cuộc đấu tranh giành lại đất đai về sau.

Cuộc phỏng vấn thứ hai với cựu Thiếu Tá Không quân Hồ Kim Giàu, phi đoàn trưởng phi đoàn nghênh cản 538 là lý thú nhất vì từ trước đến nay chưa được ai đề cập tới.

Phi đoàn nghênh cản của Không quân Việt Nam được thành lập cuối năm 1973 để đối phó với Không quân Bắc Việt trường hợp họ tấn công các phi trường thuộc Vùng I chiến thuật. Ngày 19/1/1974 khi cuộc chiến tại Hoàng Sa còn chưa ngả ngủ, Thiếu Tá Giàu được lệnh chuẩn bị phi đoàn bay ra Hoàng Sa oanh tạc các chiến hạm Trung quốc. Phi đoàn nghênh cản gồm 4 chiến đấu cơ F5-A và 12 chiến đấu cơ F5-E tối tân và với bình xăng phụ có khả năng bay ra Hòang Sa tác chiến trong vòng 15 phút và trở về. Các phi công đều được huấn luyện không chiến tại Hoa Kỳ.

Sáng ngày 20/1 phi đoàn sẵn sàng lên đường. Nhưng đến trưa có lệnh từ phủ tổng thống hủy bỏ công tác.

Cuộc phỏng vấn thứ ba là một cuộc trà đàm không ghi âm với ông Nguyễn Văn Ngân do UB ghi lại theo trí nhớ gồm 7 điểm. Trong đó chỉ có điểm số 6 liên quan đến những gì ông Ngân nghe biết về vụ Hoàng Sa. Sáu điểm còn lại không liên quan đến vụ Hoàng Sa mà chỉ là những nhận xét chính trị của ông Ngân về quan hệ Việt –Mỹ sau Hiệp Định Paris.

Nhưng trong điểm 6 ông Ngân là người duy nhất trong 16 nhân vật được phỏng vấn nêu nghi vấn Hoa Kỳ đã thỏa thuận làm ngơ để cho Trung quốc chiếm Hoàng Sa trước khi Hà Nội chiếm miền Nam Việt Nam, một điều Hoa Kỳ biết trước sau cũng xẩy ra. Ý của Hoa Kỳ là dùng Trung quốc cản đường Nga Xô sau này dựa thế đồng minh với Hà Nội tiến vào Biển Đông đe dọa eo biển Malacca và Ấn Độ Dương.

Rất tiếc UB không đi vào chi tiết để tìm hiểu cơ sở lý luận của ông Ngân, và đào sâu thêm nghi vấn quan trọng này trong mối quan hệ giữa VNCH và Hoa Kỳ vào giờ thứ 25.

Tuy chỉ là giả thuyết nhưng các sự việc lạ lùng về thái độ của Hoa Kỳ và Trung quốc chung quanh nó đủ cho chúng ta xây dựng một giả thuyết vững chắc về mặt sử liệu.

Vào thời điểm năm 1974 Hoa Kỳ đã rút Bộ binh và Không quân ra khỏi Việt Nam nhưng HQ/HK vẫn kiểm soát mặt Tây Thái Bình Dương và họ biết nhất cử nhất động của Trung quốc trong viêc chuẩn bị chiếm Hoàng Sa. Thế nhưng Hoa Kỳ chỉ cho HQ/VNCH biết như là một tin không quan trọng khi quân Trung quốc đã lén lút chiếm một số đảo trong quần đảo Hoàng Sa.

Thứ hai, cựu đại úy Kosh khi ra đến Hoàng Sa đã xin lên đảo thay vì ở trên chiến hạm. Phải chăng ông Kosh biết sẽ có hải chiến và ở trên tàu nguy hiểm hơn?

Sau trận hải chiến thủy thủ chiến hạm HQ 10 trôi dạt trên biển Việt Nam yêu cầu các chiến hạm Hoa Kỳ của hạm đội 7 gần đó vớt nhưng hạm đội 7 đã làm ngơ.

Sau cùng Trung quốc đã trả tự do cho ông Kosh và các quân nhân VNCH bị bắt giữ một cách nhanh chóng .

Theo tiền lệ Trung quốc không trao trả tù binh, nhất là tù binh Mỹ nhanh như thế. Họ đã từng giam giữ những linh mục, mục sư Hoa Kỳ nhiều chục năm sau khi chiếm Trung quốc lục địa năm 1949.

Ngoài ra mấy tháng trước cuộc tấn công ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ Kissinger đã đi Bắc Kinh trao đổi tình hình thế giới nhất là mối quan hệ Mỹ-Nga-Tàu.

Ngòai những điểm nêu trên, cuốn Hải Chiến Hoàng Sa là một tài liệu công phu và nghiêm chỉnh nhất từ trước đến nay. Quyết định của Tổng Hội HQ&HH Việt Nam Cộng Hòa và Hội Đồng Hải Sử thành lập Ủy ban Nghiên cứu trận Hải chiến Hoàng Sa là một quyết định có tầm vóc.

Cuốn sách chứng minh một điều không thể chối cãi trên công pháp quốc tế và Luật Biển 1994 Hoàng Sa là của Việt Nam và nếu kiên trì tranh đấu trên mọi địa bàn thì - như cựu Ngoại trưởng Vương Văn Bắc đã nói - nếu không trong thế hệ này, thế hệ con cháu chúng ta vẫn có đủ căn bản để lấy lại Hoàng Sa. Lịch sử chứng tỏ rằng sau một xáo trộn lớn (như Thế giới chiến tranh I, Thế giới chiến tranh II) ranh giới nhiều quốc gia thay đổi và “châu lại về hợp phố ”.

UBHS với số ủy viên chỉ còn 5 người khi hoàn thành cuốn Hải Chiến Hoàng Sa, đã làm việc kiên trì và liên tục trong 6 năm liền là một đóng góp lớn lao cho kho lịch sử dựng nước và giữ nước, và là một phần của lịch sử HQ/VNCH khi đất nước còn bị chia cắt.

Đây là một tài liệu sống động mang màu sắc lịch sử, nhất là trong thời điểm này lúc Trung quốc đang biến cải Hoàng Sa thành một căn cứ hải quân nhỏ với phi trường, kho tiếp liệu, kho vũ khí, đài quan sát và cũng là lúc cuộc tranh chấp về Hoàng Sa (và Trường Sa) giữa Hà Nội và Bắc Kinh đang làm cho Biển Đông lại dậy sóng.

Tài liệu này là một thứ vũ khí đóng góp không nhỏ cho công cuộc tranh đấu đòi đất, đòi đảo của dân tộc Việt Nam không phân biệt chính kiến. Ngày 24/10 Ủy Ban Hoàng Sa sẽ ra mắt cuốn Hải Chiến Hoàng Sa tại Little Sài gòn. Đây là một dịp hiếm có để đồng bào hải ngoại có cơ hội đọc một tài liệu quý, phong phú, và đầy đủ mọi mặt của vấn đề và nhất là được trình bày bởi những cựu sĩ quan quân lực VNCH nắm vững vấn đề Hoàng Sa nhất ./.

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2015

Chuẩn tướng Nguyễn Hữu Hạnh - Câu chuyện 33 năm…

VNCH và cú sốc mang tên Hoàng sa 1974 qua lời kể của những nhân chứng  
Câu chuyện 33 năm…


Ông Nguyễn Hữu Hạnh, nguyên là chuẩn tướng, phụ tá Tổng Tham trưởng mưu quân đội Sài Gòn năm 1975, hiện nay là uỷ viên UBTƯ Mặt trận Tổ quốc Việt Nam – Ông là một nhân chứng lịch sử trong thời điểm xảy ra những xung đột giữa chính quyền Sài Gòn và Trung Quốc năm 1974, dẫn đến sự chiếm cứ quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam. Ông tâm sự:

Cuối năm 1973, tôi nhận lệnh ra Đà Nẵng với chức danh là Chuẩn tướng, Tổng Thanh tra Quân đoàn I và Quân khu I.


Quần đảo Hoàng Sa lúc ấy thuộc nhóm đảo Nguyệt Thềm trực thuộc tỉnh Quảng Nam, nằm ngoài khơi phía Đà Nẵng. Nhóm này gồm có đảo lớn nhất là Hoàng Sa, phía đông Hoàng Sa có 4 đảo, phía nam có 1 đảo. Các đảo nhỏ chung quanh Hoàng Sa đều không có người ở. Dưới thời Ngô Đình Diệm, có một tiểu đoàn Thuỷ quân lục chiến đóng tại đây. Thuỷ quân lục chiến ngày đó đặt dưới quyền của Hải quân nên có đầy đủ phương tiện đi kiểm soát các đảo nhỏ không người ở. Trên đảo Hoàng Sa lúc ấy có đài khí tượng Thuỷ văn, có mấy mã lính từ thời Gia Long, có một ngôi Miễu Bà… Nghĩa là nó mặc nhiên thuộc về chủ quyền người Việt. Đến thời Nguyễn Văn Thiệu thì nơi này được giao cho một trung đội địa phương quân của Tiểu khu Quảng Nam (Thuỷ quân lục chiến đã trở thành sư đoàn Tổng trù bị của quân đội Sài Gòn) nên điều kiện để bảo vệ và chống trả lực lượng Hải quân Trung Quốc lúc đó là không có.


Đầu năm 1974, Tổng thống Thiệu ra Đà Nẵng. Tại buổi tiệc chiêu đãi Tổng thống, một đại tá tư lệnh Hải quân Quân khu I (Quân đội Sài Gòn) cho biết người của Trung Quốc đã chiếm 3 hòn đảo nhỏ ở phía đông Hoàng Sa. Tổng thống Thiệu bảo ngay ngày mai ông ta sẽ tới Bộ Tư lệnh Hải quân để nghe trình bày rõ hơn. Hôm sau nữa, văn phòng quân khu có cho tôi đọc một bản viết tay của ông Thiệu ra lệnh cho Đề đốc Chơn, Tư lệnh Hải quân của quân đội Sài Gòn, tổ chức hành quân đuổi người Trung Quốc ra khỏi ba đảo đã bị chiếm. Và có lẽ, đó là một sai lầm quan trọng của ông Thiệu: phát động chiến tranh với nước ngoài mà không hề thông qua Quốc hội.

Những gì diễn ra trong chiến dịch này thật là thê thảm: Bên Hải quân quân đội Sài Gòn có 4 tàu chiến đi thành hai cặp: gồm các chiếc HQ4 và HQ5, HQ10 và HQ16. Trong phút chốc 4 chiếc tàu này đã dễ dàng đuổi hết những cư dân Trung Quốc trên 3 hòn đảo Quang Ảnh, Quang Hoà và Duy Mộng. Nhưng giống như có chuẩn bị sẵn, ngay lập tức, 11 tàu chiến Trung Quốc xuất hiện, trong đó có chiếc tàu Koma trang bị vũ khí điện tử. Đó là những chiếc tàu nhỏ, vũ khí mạnh hơn, di chuyển nhẹ nhàng và linh động hơn tàu chiến của quân đội Sài Gòn. Tàu Trung Quốc khiêu khích gây sự rồi cuộc chiến đã xảy ra. Hai chiếc HQ10 và HQ16 từ phía bắc bọc phía tây đảo Hoàng Sa và khi đến phía nam thì đụng độ dữ dội. Phía Trung Quốc bị chìm một tàu, phía Sài Gòn chìm chiếc HQ10 còn chiếc HQ16 bị thương nặng, nghiêng một bên không chạy được. Hai chiếc HQ4 và HQ5 cũng bị thương nhưng còn kịp kè được chiếc HQ16 thoát chạy về phía Đà Nẵng, bỏ lại toàn bộ người trên đảo Hoàng Sa. Lúc đó, trên đảo còn lại tổng cộng 41 người, có cả cố vấn Mỹ Gerald Kosh và một thiếu tá tên Hồng, trưởng phòng 2 (tình báo) của Quân khu I. Điều ngạc nhiên nhất là tàu Trung Quốc lại không hề đuổi theo tấn công hoặc chiếm tàu của phía Sài Gòn, họ chỉ đổ bộ lên đảo, bắt toàn bộ tù binh đem về. Quần đảo Hoàng Sa rơi vào tay Trung Quốc. Số phận 41 tù binh được giải quyết đơn giản sau hai tuần giam giữ (từ 18-1 đến 31-1-1974), họ được Mỹ đưa máy bay rước về từ… Hồng Kông.

Phía Sài Gòn, Tổng thống Thiệu rình rang tổ chức “mừng chiến thắng” ở Hoàng Sa.

Tôi lúc đó cảm thấy tức giận vô cùng, không hiểu được người ta ăn mừng cái gì: Tàu ta chìm, lính ta bị bắt, đất ta mất.. mà hô hào chiến thắng? Tôi cất công đến thăm người bạn là phó Đề đốc Tánh (Tư lệnh phó Hải quân) để nắm tình hình. Ông Tánh cho vị đại tá trực tiếp chỉ huy chiến dịch này kể cho tôi nghe toàn bộ câu chuyện, thậm chí, cho xem cả những tấm hình tàu Trung Quốc khiêu chiến trước mũi tàu của quân đội Sài Gòn. Tôi cũng không hiểu được vì sao hai nước giao tranh, người ta lại có thể thả tù binh một cách êm thấm như vậy? Không hiểu sao người ta lại tổ chức ăn mừng và Tổng thống Thiệu thì lên đài tuyên bố vài câu huyênh hoang nào đó.

Cuối cùng, những thông tin tình báo và tâm lý chiến cho tôi hay: Hạm đội 7 của Mỹ ở ngoài khơi đã rút khỏi miền Nam, tình hình chính trị của Liên Xô và Trung Quốc có cảnh không êm thấm và Mỹ muốn giao Hoàng Sa lại cho Trung Quốc để chặn đường vào Bắc Việt của hạm đội Liên Xô… Mất Hoàng Sa, tại Sài Gòn, Bộ Ngoại giao và nhiều tổ chức báo chí bắt đầu lên tiếng, tuy nhiên trách nhiệm lớn nhất, tôi nghĩ, thuộc về ông Thiệu. Lẽ ra, nếu khéo một tí, tổ chức phòng thủ trên đảo Hoàng Sa, còn 3 đảo bị chiếm đóng thì dùng nhiều giải pháp khác, ít nhất, cũng không bị rơi vào tình trạng bị khiêu khích khi lực lượng Hải quân không đủ mạnh…

Đó là câu chuyện 33 năm trước mà tôi chứng kiến, như một người trong cuộc, về sự kiện Hoàng Sa bị mất!
33 năm qua, lòng tôi đau đớn về sự kiện này. Ngày ấy, Việt Nam chỉ là một con cờ trong tay nước lớn. Vị Tổng thống có thể bình yên mà huênh hoang chút ngẫu hứng anh hùng cá nhân trong khi nước mất nhà tan…

Còn giờ đây, sau 33 năm, một nước Việt Nam thống nhất, một nhà nước Việt Nam đủ mạnh và là thành viên không thường trực của Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc, tôi nghĩ nên khéo léo và cương quyết giải quyết chuyện này bằng con đường ngoại giao, nếu không hiệu quả, chúng ta nên đưa việc này ra Liên Hiệp Quốc. Dẫu biết là không dễ dàng gì, có thể kéo dài 50 năm thậm chí 100 năm đi nữa thì chúng ta cũng phải làm.

Thế hệ chúng tôi là người chứng kiến sự kiện chúng ta mất Hoàng Sa mà không làm được điều gì. Còn ngày nay, nếu chúng ta cứ tiếp tục để như 33 năm về trước, thì thế hệ con cháu sau này sẽ nói sao với chúng ta đây?

Có thể, con đường để giành lại Hoàng Sa, Trường Sa là tính bằng hàng thập kỷ hay hơn nữa, thậm chí, thế hệ chúng ta nhiều khi chỉ làm nên một tiền đề để con cháu còn có cơ sở mà tiếp tục cuộc hành trình giành lấy công bằng cho quyền lợi của Tổ quốc mình… Có khó khăn bao nhiêu đi nữa, chúng ta cũng phải làm!
Nguồn: Xưa & Nay, số 301 + 302, 2/2008, tr 25

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2015

VNCH đồn trú Hoàng Sa, đúng nghĩa là giữ bãi chim ỉa!

Lão Cạo theo dõi những diễn biến trong trận Hải chiến Hoàng Sa 1974 về phía VNCH, không thấy có sự hợp đồng giữa quân thuỷ và bộ, hoạt động của lực lượng đồn trú của VNCH ở đây rất mờ nhạt... Lão không khỏi tò mò, vậy lính đồn trú của VNCH ở đó đã làm gì cho đến khi bị TQ bắt.
Theo tài liệu và những gì nhân chứng đã từng sống ở Hoàng Sa tường thuật, đôi chỗ thông tin có mâu thuẫn nhau nhưng hình dung khái quát thế này:

Vô đề 
Về thực thi chủ quyền trên quần đảo Hoàng Sa, túm lại cho bạn nào ít quan tâm dễ hiểu:
Quần đảo Hoàng Sa có 2 nhóm đảo, trên thực tế Trung Quốc chiếm đóng và kiểm soát nhóm An Vĩnh ở phía Đông Bắc và VNCH chiếm đóng và kiểm soát nhóm Lưỡi Liềm ở phía Tây Nam.
Về lịch sử, bỏ qua thời nhà Nguyễn, đến thời Pháp họ có đóng quân ở đảo Phú Lâm (An Vĩnh), đảo Hoàng Sa (Lưỡi Liềm) và thỉnh thoảng dùng tàu tuần tra vòng quanh kiểm soát cả quần đảo, rồi thời Nhật chiếm đóng, Pháp lấy lại. Thời VNCH đóng quân chủ yếu là đảo Hoàng Sa, từ đó kiểm soát các đảo kế cận, còn Trung Quốc đóng quân đảo Phú Lâm, kiểm soát các đảo kế cận.
Lúc đầu có một tiểu đoàn Thuỷ quân Lục chiến VNCH đóng quân bảo vệ đủ 5 đảo, có ca nô đi tuần tra, sau giảm xuống một đại đội, từ 1959 chỉ còn một trung đội, rồi chuyển dần nhiệm vụ cho Bảo an, sau này là Địa phương quân thuộc Tiểu khu Quảng Nam.
Quân số địa phương quân thường trực khoảng 30 đến 35 người, đóng quân trên 3 đảo là Hoàng Sa, Quang Hoà, Duy Mộng, rồi giảm tiếp quân số và "chết dí" một chỗ là đảo Hoàng Sa, họ không có xuồng ghe đi tuần tra nên các đảo gần đó có gì bất thường họ không hề biết.
Trong thời gian hải chiến Hoàng Sa 1/1974, thực tế có 25 lính và 4 nhân viên khí tượng tại đảo Hoàng Sa.

Công trình trên đảo Hoàng Sa thời Pháp "ất giáp bài bản":
Vũ lực không đem lại chủ quyền - Ảnh 1
Thời VNCH đảo Hoàng Sa "tệ như nhà vợ thằng đậu":
 

Họ là gồm những ai?

Là những lính Địa phương quân (lính vườn) kể cả trung đội trưởng vì do kỷ luật kém hay bị đì (đày)... được gom từ các đơn vị thành trung đội đưa ra đảo Hoàng Sa. Đa số họ có vợ con đùm đề ở quê nhà, lương trong đất liền vợ lãnh, khi về mang theo cá khô, rong biển... làm quà cho vợ con.

Nhiệm vụ, trách nhiệm?
Đi bộ vòng quanh đảo mất 20 phút, nhiệm vụ của họ là trấn thủ để bảo vệ và xác định chủ quyền của đảo Hoàng Sa thuộc Việt Nam Cộng Hòa chấm hết.

Công tác trong bao lâu?
Định kỳ là 3 tháng, phạm vị trễ 10 ngày, có nhân chứng cho rằng kéo dài mãi 6 tháng (chắc vì lý do nào đó, có tàu ra tiếp tế lương thực, thực thẩm). Khi đổi quân là thay toàn bộ lính lẫn tổ khí tượng, người cũ bàn giao cho người mới đến. Nhân viên khí tượng vần đi vần lại cũng bao nhiêu khuôn mặt đó, có người ra Hoàng Sa đến mười mấy lần, họ là những người biết rành nhất về Hoàng Sa.

Đi ra bao lâu và liên lạc bằng gì?
Từ Đà Nẵng đi  Hoàng Sa trên dưới 1 ngày tuỳ loại tàu và thời tiết. Trước đóng quân trên 3 đảo có máy thông tin liên lạc với nhau, sau không có. Muốn liên lạc về chỉ huy ở đất liền phải thông qua máy của đài khí tượng. Họ không có phương tiện truyền tin với các tàu như cờ, đèn hiệu ... (thậm chí cái ống nhòm cũng không nghe nhắc đến) nên muốn ra lệnh cho các tàu cũng không được.

Sống bằng gì?
Khi nhận ra công tác mỗi người mang theo lương thực, thực thẩm đủ dùng trong thời gian quy định. Nếu tàu định kỳ ra trễ, anh em phải giảm khẩu phần ăn cháo cầm hơi. Ban đầu, đơn vị có gia cầm mang theo, ăn hết thì thôi, có trồng ít rau gia vị... Thực phẩm hằng ngày là đánh bắt hải sản như cá, cua, ốc, vít... Uống nước từ bể chứa nước mưa dự phòng (đôi khi bị hết nước phải xài nước giếng), nước giếng dùng để tắm giặt vì bị nhiễm phốt phát. Do nhà cửa tạm bợ, gạo bảo quản không tốt, co khi họ phải ăn gạo mục mốc.

Cơ sở vật chất có gì?
Trên đảo có nhà kiên cố xuống cấp từ thời Pháp để lại là trạm khí tượng và vài nhà lợp tôn hoen rỉ cho lính, không còn cửa nẻo, mùa biển động phải dùng bạt che chắn, chịu cảnh ướt át lạnh lẽo mỗi khi có gió bão. Có lần tại đảo Duy Mộng , căn nhà anh em trú ngụ cũng bị bão đánh trốc cả mái , những tấm tôn lợp bay tứ tung ra rừng cây ráy biển, mọi người trên đảo phải phủ pon-cho ẩn nấp trong những hốc đá chờ bão tan họ mới cùng nhau đi tìm nhặt những tấm tôn mang về tu sửa lại nhà.

Việc phòng thủ có gì?
Không có hệ thống hào chiến đấu, không rào kẽm gai, không mìn, có mấy lô cốt cũ thời Nhật chiếm đóng. Nghe nói ngoài súng cá nhân M-16 còn có súng cối, đại liên, tất cả đều cất vào kho, lính thường ngày không mang súng (sợ bắn nhau), khi cần mới được dùng súng bắn cá, vít. Khi quân TQ đổ bộ vào không nghe sử dụng súng lớn để chống trả, có lẽ để lâu ngày bị rỉ sét hoặc họ không dám dùng.

Làm gì trên đảo?
Ngày bắt cá, đêm ngủ, lang thang ở trân lội bộ ra các rạn san hô thả lưới câu cá, không nghe nói tổ chức luân phiên canh gác. Lính phát hiện bằng mắt có máy bay, tàu lạ gõ kẻng báo động cho nhau, sau đó điện báo về đất liền. Nhân viên khí thượng thay nhau thả bóng khí tượng, ghi chép thông số, điện về đất liền dự báo bão. Ngoài ra để tránh buồn chán, họ, đờn ca, đánh bài giải sầu... Có vài lần tàu thuyền "nước lạ" ghé vào, sau hải chiến họ mới nghĩ ra là quân Trung Quốc giả dạng để nắm bắt tình hình phòng thủ trên đảo

Lỡ xảy ra bênh tật thì sao?
Thường có một y tá đi cùng với thuốc men thông dụng. Có trường hợp một người bị rắn biển cắn, chỉ huy điện liên tục về đất liền, không tàu ra, nằm chờ chết, may sao đến ngày về bị liệt người chứ không chết! Chuyện kể rằng khi Nhật đảo chính Pháp, anh em trên đảo bị bỏ rơi, bèn kiếm gỗ làm bè thả về đất liền, sau mấy ngày nhịn đói, họ táp vào bờ biển Qui Nhơn. Năm 1963, xảy ra đảo chánh lật đổ Tổng thống Diệm, cơ sở chế biên phân phốt-phát của bà Nhu ngưng hoạt động, toán công nhân ở đây suýt đói vì bị bỏ quên.  

Ngày xảy ra hải chiến, họ làm gì?
Không khí chiến tranh gần như không hề xuất hiện ở đây, tối cuối cùng trước khi trận chiến xảy ra, họ còn ngồi quây quần với nhau đàn hát nhạc của Trịnh Công Sơn... .Ngày 19/1 họ đứng xem hải quân hai bên bắn nhau như màn ảnh, hải quân.VNCH rút, quân Trung Quốc đổ bộ, họ bắn đì đoàng chiếu lệ, quân TQ vào bắt làm tù binh, không phải như mấy ảnh nói bắn hết đạn mới chịu đầu hàng...

Thơ của một chúa đảo Hoàng Sa
Tàu ra khơi anh mang theo nỗi nhớ
Gọi người tình giữa sóng nước mù
Em thành phố,anh miền xa hải đảo
Nhớ nhau xin soi mặt ánh trăng rằm .

Khói quyện tơ sầu trên ngón tay
Chiến y năm tháng nặng vai gầy
Hành trang nửa mãnh trăng đầu súng
Đi mãi cho tròn nghĩa nước mây .

Dư Mỹ

Đại úy Trần Kim Diệp nhận xét
Riêng về đội quân trấn đảo , tiếng là ‘’trấn thủ ‘’nhưng thực ra là đi tù . Họ gồm 22 quân nhân diện vô kỹ-luật thuộc những Đại-Đội ĐPQ của Quân-Khu 1, do 1 viên Sĩ-Quan cấp bậc Tr/U cũng vô kỹ-luật được chỉ định làm Trưởng Toán ( Đây là điều sai lầm vô cùng to-tát của các cấp lảnh đạo đã xem nhẹ và để mất quần đảo quý báu này ) .Vì là thành phần bị đi đày nên trong thời gian từ 3 đến 6 tháng ở đảo , họ không hề có tôn ti , cấp bậc mà sống theo ‘’luật của kẻ mạnh ‘’ và tất cả vũ-khí đều phải cất vào kho để tránh trường hợp họ dùng để thanh toán nhau .
Lương thực , thực phẩm mang theo thường được phung phí thật nhanh , sau đó hàng ngày toả ra bìa đảo để mò sò, ốc , bắt cua , cá , mực sống qua ngày . Vùng biển HS rất giàu hải sản , đặc biệt có loại ốc tai tượng rất to . Khi chúng tôi đến đảo thì được viên Sĩ-Quan Trấn Đảo Tr.U HY đải món khô gân ốc tai tượng nướng ăn khá ngon miệng .


 
 
Công trình trên đảo Hoàng Sa thời Pháp





 

Thợ cạo đã mổ:

Những cục sạn không nuốt nổi của nguyên TB Biên giới QG về Hải chiến HS...
Truyên truyền biển đảo kiểu Vịt, ăn cho hết! (có liên quan đến TS Trục)
Hải chiến Hoàng Sa 1974 - Những gì bạn biết có thể chưa hẳn thật.
Những quyết định khó hiểu của chỉ huy quân VNCH trong HCHS 1974?
Hoàng Sa mất - Tại ải tại ai?
HQ/VNCH mở cuộc hành quân THĐ 48 chiếm cứ 5 đảo ở Trường Sa ...
.....

Thứ Sáu, 20 tháng 3, 2015

Hải chiến Hoàng Sa 1974 - Những gì bạn biết có thể chưa hẳn thật

Chiên da Cạo xem tả lả âm binh, rất tiếc toàn là chữ Việt, không biết nguồn Tàu để đói chứng, nếu không sẽ phán như thánh chứ chẳng chơi! Dzì vậy tóm tắt dưới đây của Thợ Cạo cũng có thể sai, theo kiểu "Có một sự thật khác".
Nhân chứng người trong cuộc hải chiến, mỗi ông kể một phách, có người khiêm tốn, có người nổ banh chành. Tài liệu Chiến tranh chính trị của VNCH chủ yếu để truyên truyền còn Hải sử hải ngoại của các sếp từng ở Bộ tư lệnh Hải quân VNCH oánh nhau trên bàn giấy nói cho hay. Đối với Thợ Cạo là phải "nói có sách mách có chứng" thì tui mới tin
. Dưới đây là théc méc lâu nay của lão cũng có thể là của bạn. Tạm chốt vướn đề như sau, nếu có sai xin Thiếu tá Nguỵ Văn Thà phù hộ.

Kế hoạch bảo vệ quần đảo Hoàng Sa của VNCH như thế nào?
Không, theo định kỳ 3 tháng một lần, Hải quân VNCH mới phái tàu ra kiểm tra, tiếp tế cho trung đội Địa Phương quân (trừ phi có chuyện bất thường).

Trung đội Địa phương quân đồn trú ở đảo Hoàng Sa làm gì?
Nói có thể quá - Địa phương quân là lính vườn bị lưu đày 3 tháng, tà tà ở đó tự lực cánh sinh. Có nhiệm vụ chính là ở giữ đảo mà họ đóng quân, hàng ngày cử người quan sát bằng mắt thấy con người, tàu thuyền, máy bay lạ, thông qua tổ khí tượng báo về đất liền, họ không có phương tiện đi tuần tra các đảo lân cận...


VNCH có biết trước ý đồ thôn tính của Trung Quốc?

Hoàn toàn không biết gì hết, cho đến khi cho đến khi tàu HQ-16 đi định kỳ, đồng thời chở toán công binh ra khảo sát nhằm lập phi đạo ở đảo và để nghiên cứu việc tu sửa lại cầu tàu tại Hoàng Sa, tình cờ phát hiện một số hoạt động bất thường của Trung Quốc trong nhóm đảo Lưới Liềm, báo cáo về đất liền.Về mặt chiến thuật, ngay cả Trung đội Địa phương quân đóng ở đảo Hoàng Sa cách đảo Hữu Nhật không biết có TQ xâm nhập.

Trung Quốc có kế hoạch dùng vũ lực thôn tính nhóm đảo Lưới Liềm không? 
Ý đồ bành trướng thì có, kế hoạch dùng vũ lực chưa thấy bằng chứng nào, theo suy đoán có thể có (do tuyệt mật nên TQ chưa giải). Ban đầu Trung Quốc khéo léo dùng dân quân giả dạng ngư dân đánh cá xâm nhập các đảo trước, tàu chiến lảng vảng vòng ngoài để tránh bị phát hiện, sẵn sàng hổ trợ lực lượng xâm nhập trái phép. Ngày 18/1 hải quân hai bên so kè nhau, tình hình nóng lên, hai bên báo cáo về Bộ tư lệnh của mình. 11 giờ tối, Hải đội trưởng VNCH nhận Lệnh hành quân Hoàng Sa 1 nhằm chiếm lại một cách "hòa bình" các đảo Hữu Nhật, Quang Hòa, Duy Mộng, Quang Ảnh.


Lực lượng Trung Quốc và Hải quân VNCH có mặt khi nào?

Ngày 16/1, HQ-16 có mặt, lực lượng đổ bộ bị phát hiện danh chính là dân quân TQ (không loại  trừ có binh lính giả dạng trà trộn).
Ngày 16-17/1, Hải quân VNCH phát hiện dấu hiệu khả nghi, đổ bộ kiểm tra, dân quân TQ tạm thời rút khỏi đảo Hữu Nhật, Quang Ảnh.
Ngày 18/1, Tàu chiến hải quân TQ xuất hiện ở khu vực, 2 tàu chiến VNCH đổ bộ biệt hải lên đảo Quang Hòa và Duy Mộng thì phát hiện có bộ binh TQ bắn chặn.

Hai bên tổ chức lực lượng thê đội 2 dự bị ra sao?
Không, về phía VNCH trên thực tế không có lực lượng dự bị sẵn sàng yểm trợ chi viện cho lực lượng phía trước. TQ ngay khi lên kế hoạch hành quân đã tổ chức lực lượng hổ trợ, ví dụ như điều 2 tàu săn ngầm tiến vào vùng gần đảo Phú Lâm làm nhiệm vụ chi viện, cho 2 máy bay trinh sát trên vùng trời...

Trước khi xảy ra hải chiến, hai bên đã chiếm đóng kiểm soát những đảo nào?
Về phía VNCH
- Tại đảo Hoàng Sa có 30 quân (25 Địa phưong quân và 5 Công binh)
- Tại đảo Hữu Nhật (Cam Tuyền) có 14 biệt Hải.
- Tại đảo Quang Ảnh (Vĩnh Lạc) có 10 Hải quân
Về phía Trung Quốc
-  Tại đảo Quang Hoà và đảo Duy Mộng có một đại đội Trung Quốc

Lực lượng trên đảo của hai bên đánh nhau có dữ dội không?
Không, vài nhân chứng kể cho hay vậy thôi. Hơi có ác liệt là ngày18/1, khi HQ-4 đổ bộ toán Biệt Hải vào đảo Quang Hoà Tây bị lính TQ bắn chết 2 người nhái. Sau hải chiến, 20/1 khi các tàu hải quân VNCH rút lui, quân TQ tấn công lên đảo, lực lượng VNCH chống cự chiếu lệ, chấp nhận bị bắt. Cả hai bên không ai thiệt mạng.

Không quân TQ có oanh tạc quân VNCH hay không?
Không, Những ngày trước hải chiến, máy bay TQ bay trên bầu trời chỉ làm nhiệm vụ trinh sát (có thể đồng thời dùng để đe doạ quân VNCH). Ngày 20/1 sau hải chiến, không có Mig-21, 23 nào yểm trợ cho quân TQ, tấn công quân VNCH trên các đảo.

Có thật VNCH đã điều 5 phi đoàn, 120 máy bay F-5 tại Đà Nẵng sẵn sàng xuất kích?
Nổ, Máy bay cần hệ thống phục vụ đi kèm, làm như bộ binh tóm cổ lên xe vả lại điều thế thì gần hết vốn lấy máy bay đâu cho chiến trường trên bộ. Có chăng 1 phi đoàn - 17 máy bay sẵn sàng chờ lệnh.


Hai bên có thể tránh hải chiến hay không và VNCH có thể giữ lại đảo nào?
Có thể, vì hai bên tranh chấp đều không có ý dùng vũ lực giải quyết tranh chấp lãnh thổ từ ban đầu, Trung Quốc dùng kế tầm ăn dâu, lần dần từng bước. Hải chiến xảy ra trong tình hình nóng lên đỉnh điểm trong dự kiến nhưngkhó thể kiểm soát, quân hai bên tuỳ cơ ứng biến. Giả như VNCH kiên trì mềm dẽo, chấp nhận đảo Quang Hoà, Duy Mộng mất về tay Trung Quốc, không tấn công trực diện quân TQ thì biết đâu có thể còn giữ lại đảo Hoàng Sa, Hữu Nhật, Quang Ảnh và Tri Tôn. Giữ được các đảo còn lại hay không tuỳ cuộc diện về sau.


Có thật VNCH đã có kế hoạch phản công tái chiếm? 
Không, việc lên kế hoạch là bước chuẩn bị, nó chỉ có giá trị thực tiễn khi nào Kế hoạch ấy được ban hành chính danh. Không có bằng chứng nào cho thấy có lệnh hay ban hành kế hoạch từ người có trách nhiệm quyết định. Vì nguyên tắc việc quân ở cấp cao, ai ra quyết định người ấy chịu trách nhiệm, mệnh lênh phải được ghi nhân qua điện báo hay văn bản. Sự việc.chỉ dừng lại ở việc cấp dưới linh hoạt điều quân kiểu "đi tắt đón đầu" sẵn sàng chiến đấu theo ý cấp trên.
....
còn mổ tiếp
_________

Thợ đã cạo:
Những quyết định khó hiểu của chỉ huy VNCH?

TH: Những quyết định khó hiểu của chỉ huy VNCH?

- Bố trí quân địa phương đồn trú bảo vệ chủ quyền ở Hoàng Sa chỉ 25 người, không có trang bị vũ khí bộ binh nặng để độc lập tác chiến... Không có đài rada.cảnh giới. Không có chiến hạm thường trực tuần tra?

-  Muốn tái chiếm, buột phải đánh bật quân TQ ra khỏi các đảo đã xâm nhập, lại dùng 74 Biệt Hải (người nhái) thay về 1 toán Biệt Hải còn lại là Thuỷ quân Lục chiến? Tuy Biệt Hải là lực lượng có kỷ năng ưu tú nhưng sở trường của họ là bí mật đột kích và đìi hỏi có điều nghiên trước. Nếu dàn trận  tác chiến trực diện thì không thể bằng quân bộ.

- Bất kỳ một chiến dịch nào cũng phải có thê đội 2 dự bị để đánh bồi hoặc giải vây, VNCH đã không tổ chức lực lượng này, phó mặc chiến trường cho 4 chiến hạm.

- Vì sao chỉ huy VNCH có nhiều loại máy bay hiện đại khả dụng tấn công, yểm trợ hoặc tối thiểu là uy hiếp đối phương trên biển như C-130, C-123, C-7, F-5, họ lại không làm?

- Hai tàu chiến HQ-4 và HQ-5 vừa mới đào thoát khỏi trận đánh, lệnh buột phải quay lại chiến tiếp, tuy thiết bị có thể sửa chữa chiến đấu tiếp nhưng binh sĩ đã xuống tinh thần, làm sao đánh thắng đối phương? rồi lại lệnh quay về Đà Nẵng?

- Ý của chính phủ Hoa Kỳ là không can dự tranh chấp quần đảo Hoàng Sa, Hạm đội 7 từ chối cứu hộ.  Nhưng Lãnh đạo, Chỉ huy VNCH vẫn lên kế hoạch phản công tái chiếm, thậm chí điều cả không quân tập kết trong khi chưa có hậu thuẫn từ Mỹ tất nhiên VNCH sẽ không dám đánh, để rồi huỷ bỏ?

.....

Thợ Cạo